CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 1. Cơ sở lý luận của dạy học tương tác 1. Tương tác Thuật ngữ tương tác trong tiếng Anh là “Interaction”, được ghép bởi hai từ đơn: Inter và Action. Trong đó “Inter” mang nghĩa là: Sự kết nối cùng nhau, nối liền với nhau, nối nhau [5].
Còn “Action” có nghĩa là: Sự tiến hành làm điều gì, hoạt động, hành động, là ảnh hưởng, tác động [5]. Mặt khác, “Interaction” còn có nghĩa: Sự hợp tác, ảnh hưởng qua lại, sự tác động qua lại trực tiếp giữa các yếu tố [6]. Theo từ điển tiếng Việt [7], tương tác được định nghĩa là tác động qua lại. Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó.
Vì thế, tương tác trong dạy học là quá trình tác động của giáo viên, sinh viên, môi trường và phương tiện thể hiện qua hoạt động dạy và học. Dạy học tương tác Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội. Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy và người học. Về bản chất, QTDH là quá trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học[11].
Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học. Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học. Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác. Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiên.
13 Dạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa bốn tác nhân cơ bản: người dạy, người học, môi trường, phương tiện và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong bốn tác nhân đó. Lý luận dạy học tương tác Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa tới nay đều có tương tác, vấn đề này ai cũng biết và sử dụng. Từ phương thức dạy học truyền khẩu của các cụ đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng phương tiện hiện đại để tăng tính năng tương tác trong dạy học. Việc sử dụng tương tác trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong quá trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một cơ sở khoa học nào.
Phải đến khi tác phẩm [1] mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp thu và xử lý thông tin. Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm (hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bốn tác nhân – Người dạy, người học, môi trường và phương tiện – trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ [2]. Người học Khái niệm người học (étudiant) có nguồn gốc từ tiếng la tinh (studium) với nghĩa là “cố gắng và học tập”.Theo nghĩa rộng hơn, thuật ngữ này có bao hàm nghĩa là cam kết và trách nhiệm. Người học là người mà với năng lực cá nhân của mình tham gia vào một quá trình để thu lượm một trí thức và năng lực mới.
Người học trước hết là người tìm cách học và tìm cách hiểu, như vậy người đó tìm tới đối tượng tri thức và sở hữu nó. 14 “Người học” có nghĩa rộng hơn từ “học sinh”, “sinh viên”. Hai từ này nhấn mạnh hơn tới mối quan hệ với người thầy và một cơ sở dạy học, còn từ “người học” được dùng trong phương pháp sư phạm tương tác bao hàm tất cả các đối tượng học tập, không nhất thiết phải gắn liền với trường lớp. Người dạy Người dạy (enseignant) là người bằng kiến thức, kinh nghiệm của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn người học.
Người dạy chỉ cho người học cái đích phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú học và đưa họ tới đích. Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học, hiểu và thực hành. Người dạy phục vụ cho người học. Công việc giảng dạy đối với người dạy là con đường bình thường để thực hiện sứ mệnh của mình, tuy nhiên đó không phải là sự truyền đạt kiến thức đơn thuần theo cách một thầy (cô) giáo đọc thuộc lòng một bài giảng trước học trò hay theo cách một thầy (cô) giáo phổ biến khoa học.
Theo phương pháp sư phạm tương tác, vấn đề là phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của một người hướng dẫn. Môi trường Hoạt động của người dạy diễn ra trong không gian và thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau. Đó là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy và người học cùng nhau phối hợp tổ chức. Môi trường dạy học các môn học công nghệ thông tin rất đa dạng, phong phú.
Đặc biệt là trong thời kỳ công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh như hiện nay. Ngoài môi trường là các máy tính hiện đại, máy chiếu và mạng internet phổ cập rộng rãi với nhiều thông tin phong phú thì vẫn còn rất nhiều các phương tiện hiện đại khác. Theo quan điểm tương tác “Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa. Cả 15 người học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triển trong một đất nước có cả thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng tới họ.
Tất cả những yếu tố này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học” [1] Có thể nói môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng do người dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học. Môi trường có thể là cơ sở vật chất, không khí lớp học,… đến phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,… 1. Phương tiện Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm những phương tiện chứa các thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong tự nhiên như: sách giáo khoa, chương trình môn học, sổ tay, vở ghi chép,… Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: băng, đĩa. Các phương tiện mang tin thị giác như: bản vẽ, bản đồ,…các phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm và thao tác như: mô hình, đồ vật, thiết bị,…và các phương tiện mang thiết bị nghe nhìn.
Điều quan trọng là làm thế nào để sử dụng các phương tiện dạy học hiệu quả nhất. Các thao tác Hoạt động sư phạm bao gồm toàn bộ các hành động của người học khi học, của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học. Thực tế hoạt động sư phạm bao gồm phương pháp học, phương pháp sư phạm, cả 2 phương pháp này chịu ảnh hưởng của môi trường và phương tiện dạy học. Phương pháp học Học là hoạt động của chủ thể nhằm biến đổi bản thân.
Học được hiểu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo tâm lý học nhận thức: “Học là quá 16 trình biến đổi và cân bằng cấu trúc nhận thức để thích nghi với môi trường”. Theo lý thuyết thông tin: “Học là quá trình thu nhận và xử lí thông tin từ môi trường sống của chủ thể, làm cho chủ thể tự biến đổi”. Từ đó, học được hiểu là “quá trình chuyển hóa tri thức của nhân loại thành tri thức của cá nhân”.
Người học sử dụng nội lực, để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy sinh trong mình theo một phương pháp nào đó. “Phương pháp học là khái niệm miêu tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động học” [1]. Phương pháp học bao gồm toàn bộ quá trình mà người học tiến hành để chiếm lĩnh tri thức, hình thành cho bản thân các kỹ năng, kỹ xảo. Trong quá trình này người học thực hiện các hành động học tập tương ứng đối với các đối tượng học tập.
Do đó nội lực của người học là xuất phát điểm và cũng là lực thúc đẩy bên trong của những hành động được người học thực hiện. Kết quả thực hiện các hành động học tập, người học sẽ đưa ra các tri thức vốn tồn tại khách quan với bản thân và hệ thống các tri thức đã có của mình, đồng thời có thể hòa nhập được với tình huống thực tiễn khi hoạt động học diễn ra. Khi đó người học đã đồng hóa được một tri thức mới. Như vậy theo tương tác dạy học, phương pháp học là khái niệm mô tả về con đường giúp cho người học đồng hóa được những tri thức mà người học phải lĩnh hội.
Phương pháp học tập của người học được quy định bởi mục đích, nội dung của từng môn học, từng bài học, bởi môi trường lớp học, phương tiện học tập, kinh nghiệm của bản thân và phương pháp hướng dẫn của giáo viên. Phương pháp học tập phụ thuộc vào rất nhiều ý thức học tập của từng sinh viên, phải biết vượt qua chính mình. Sự say mê, hứng thú, quyết tâm, sự tập trung chú ý vào các nhiệm vụ học tập sẽ tạo nên kết quả học tập tốt. 17 Phương pháp học còn phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng sinh viên.
Kết quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử lý, trình bày thông tin của cá nhân. Phương pháp sư phạm Đó là toàn bộ các can thiệp của người dạy trong mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học. Người dạy mong muốn tạo nên một không khí thuận lợi cho người học, do đó cần đến tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất sư phạm của mình và chú ý đến các khả năng của môi trường cũng như nhu cầu của người học. Người dạy muốn giúp đỡ người học.
Người dạy bằng kiến thức, kỹ năng và ứng xử của mình làm nảy sinh kiến thức và kỹ năng của người học theo cách của một người hướng dẫn và hỗ trợ (Phương pháp dạy). Phương pháp dạy được sử dụng trong dạy học tương tác là toàn bộ các can thiệp của người dạy trong mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học.