Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí sử dụng thiết bị dạy học ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lí sử dụng thiết bị dạy học tại trường THCS Tân Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Biện pháp quản lí sử dụng thiết bị dạy học tại trường THCS Tân Tiến, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh đổi mới giáo dục. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ SỬ DỤNG THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về sử dụng thiết bị dạy học Đã có nhiều công trình nghiên cứu về TBDH và quản lý sử dụng TBDH. Komenski (1592- 1679) đã viết “…bắt đầu dạy học không thể từ sự giải thích bằng lới về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng, lời nói không được đi trước sự vật,… cái có thể tri giác được hãy để cho học sinh tri giác bằng giác quan của chúng, cái nhìn được hãy để cho nhìn, cái nghe được hãy để cho nghe”. Đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ mã số: B96-49-07TĐ do Trần Quốc Đắc chủ nhiệm với tiêu đề: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu thiết kế mẫu một loại hình cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông”.
Đề tài đã hệ thống hóa, bổ sung, hoàn chỉnh một bước cơ sở lý luận về nghiên cứu, phát triển cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; qui trình thiết kế sản xuất mẫu thiết bị dạy học dùng trong trường phổ thông. Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, mã số B2001-49-11 do Trần Đức Vượng và cộng sự thực hiện đã làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng chuẩn trang bị cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho trường tiểu học; đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn trang bị CSVT&TBDH cho trường tiểu học và trung học cơ sở. Đề tài cũng đã đề xuất tiêu chuẩn trang thiết bị dạy học cho trường tiểu học làm cơ sở để Bộ ban hành danh mục đồ dùng dạy học cho học sinh cấp tiểu học. Đề tài cấp bộ mã số B2003-49-41: “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học phục vụ triển khai chương trình, sách giáo khoa tiểu học và trung học cơ sở” do Trần Đức Vượng chủ nhiệm đã phân tích hiệu quả 6 sử dụng và đề xuất các biện pháp đối với cán bộ quản lý và giáo viên trong sử dụng hiệu quả thiết bị dạy học tại các trường tiểu học và trung học cơ sở.
Đề tài cũng làm rõ biện pháp sử dụng thiết bị dạy học trong phòng bộ môn. Các nghiên cứu về quản lý sử dụng thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở Quản lý sử dụng TBDH dựa trên tác phẩm “Dictionnaire actuel de Péducation. Guérin (1993), quan niệm “Đổi mới quản lý giáo dục tất yếu phải bắt nguồn từ đổi mới cách dạy, cách học theo định hướng chiến lược là “phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều, áp dụng các trang thiết bị hiện đại vào bài giảng”. muốn thực hiện điều này, phải được bắt đầu từ năng lực của người GV và hệ thống các phương tiện dạy học.
Quan điểm về quản lý sử dụng TBDH trong nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu, chương trình giáo dục. Phần lớn khi đánh giá hiệu quả sử dụng TBDH trong nhà trường thường được đo bằng các tiêu chí như: TBDH có đáp ứng được mục tiêu chương trình dạy học của nhà trường hay không? Người dạy và người học tham gia như thế nào trong quá trình sử dụng TBDH? Các phát minh sáng chế TBDH có được khuyến khích không? Và để giúp cho hiệu trưởng nhà trường trong quá trình đánh giá cần phải có mô hình quản lý kiểm soát thông qua kế hoạch thực hiện bài giảng của Giáo viên và học sinh. Với mô hình quản lý TBDH trong trường học đã được UNESCO khởi xướng, khuyến khích và bảo trợ trong suốt hơn 50 năm qua tại Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Séc, Ba Lan, Úc. với tôn chỉ “Nhà trường phục vụ nhà trường”.
Tại Ba Lan, quản lý sử dụng TBDH được đánh giá thông qua các bài tập thực hành của học sinh, và thường cho một số lượng không nhỏ trong hệ thống TBDH được sử dụng trong các nhà trường phổ thông. Tại Rumani, quản lý sử dụng TBDH gắn với việc tự làm TBDH; thực hành tự làm TBDH được xem là môn học bắt buộc tại các trường trường phố thông “Chuẩn bị kỹ 7 thuật và sản xuất”. Tại Liên xô (cũ), TBDH tự làm rất được chú trọng tại các nhà trường, số giáo viên tham gia tự làm TBDH rất nhiều. Đã có nhiều tài liệu, nhiều cuốn sách của nhiều tác giả viết, giới thiệu hàng loạt mẫu TBDH tự làm rất phong phú, có 14 giá trị khoa học giáo dục và giá trị kinh tể cao, đã được dịch ra tiếng Việt, lưu hành rộng rãi trong ngành giáo dục Việt Nam những năm 70 - 80 của thế kỷ trước, các tài liệu này được dùng để tổ chức các lớp bồi dưỡng “nhân viên thiết bị thí nghiệm” và còn được sử dụng làm tài liệu tự bồi dưỡng dối với giáo viên các môn học, các cấp học ở Việt Nam.
Nhìn chung ở các nước có nền giáo dục tiên tiến đều xác định muốn quản lý sử dụng thiết bị trong nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng có hiệu quả thì vấn đề phải đào tạo được đội ngũ nhân lực làm công tác thiết bị trường học. Như vậy, đã hình thành và thực hiện ý tưởng biên chế cho đội ngũ những người làm công tác TBDH trong giáo dục được đào tạo rất bài bản. Một số tác giả như Simon Hooper, Lloyd p. Rieber (1992) đã nghiên cứu vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học và sử dụng TBDH với công trình nghiên cứu: “Teaching with Technology” đã nhấn mạnh đến vai trò của ứng dụng CNTT trong thiết kế và sử dụng thiết bị hiệu quả trong các trường học phổ thông.
Việc sử dụng CNTT sẽ khai thác tối đa các nguồn thiết bị dạy học như: cung cấp cách chế tạo thiết bị dạy học, cách khai thác các nguồn thiết bị dạy học tối đa để chiếm lĩnh kiến thức lý luận và thực hành. Tác giả David Dwyer (2002) đã nêu quan điểm về sử dụng TBDH hiệu quả khi nhà quản lý coi TBDH như là công cụ, chỉ báo phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo chất lượng dạy học của nhà trường và môi trường dạy học của nhà trường. Ở Hoa Kỳ, ngay từ những giờ học đầu tiên về ngôn ngữ các thiết bị dạy học hiện đại đã được đưa vào giảng dạy, những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, ở bậc tiểu học, học sinh sử dụng trang Web Youtube.com như một tài nguyên học đường. Giáo viên cung cấp cho học sinh giọng đọc qua 8 một video clip để dạy về ngôn ngữ cho học sinh; GV đã sử dụng máy tính, máy chiếu trong lớp học để hiển thị giọng đọc từ video clip cho lớp học.
Ở trong nước, các nghiên cứu về vai trò của thiết bị dạy học trong trường học Nhóm tác giả Tô Xuân Giáp (1997) trong các giáo trình “Phương tiện dạy học” NXB giáo dục Hà Nội; Đỗ Huân (2001) “Sử dụng thiết bị nghe nhìn trong dạy học” NXB Đại học QGHN Hà Nội; Phan Trọng Ngọ (2005),“Lý luận dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” đều có chung với kết quả nghiên cứu: Phương tiện dạy học (còn gọi là đồ dùng dạy học, thiết bị dạy học) là một vật thể hoặc một tập hợp các vật thể mà giáo viên sử dụng trong quá trình dạy học để nâng cao hiệu quả của quá trình này, giúp học sinh lĩnh hội khái niệm, định luật,. hình thành các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ cần thiết. Tác giả Hồ Ngọc Đại đã viết: Sách giáo khoa và Thiết bị dạy học là “bộ đồ nghề của người giáo viên”. Ông đã xác định sách giáo khoa, thiết bị dạy học là những công cụ để giáo viên sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học hiệu quả.
Cùng với SGK, TBDH là phương tiện lao động sư phạm không thể thiếu để GV và HS phối họp tổ chức các hoạt động dạy học và tiến hành một cách họp lý, có hiệu quả quá trình dạy học ở các môn học, cấp học. Vũ Trọng Rỹ (2003), Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông (Viện KHGDVN) cho rằng với sự phát triển của công nghệ dạy học dựa vào phương tiện dạy học, nêu lên các đặc trưng chủ yếu của phương tiện dạy học, nhiều cách phân loại và những nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả. Đặc biệt, TBDH có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là ở chỗ: nếu sử dụng TBDH có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng nhất không những trong việc hình thành tư duy khoa học cho HS mà còn góp phần phát triển kỹ năng nghề nghiệp của chính người GV. Theo tác giả Ngô Minh Oanh (2011) ĐHSP TP Hồ Chí Minh, quá trình dạy học là một quá trình truyền thông, dưới góc độ mô hình công nghệ dạy học được biểu hiện bằng thông điệp “chuẩn đầu ra và 9 khả năng thực hành”; Vì thế, Quá trình dạy học, giáo dục không thể thực hiện được nếu như không có các phương tiện để chuyển tải thông tin.
Đề tài mã số B2001-49-11 do Trần Đức Vượng làm chủ nhiệm. Mục tiêu của đề tài là: Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng chuẩn trang bị cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho trường tiểu học; đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn trang bị CSVT&TBDH cho trường tiểu học và trung học cơ sở. Đề tài cũng đã đề xuất tiêu chuẩn trang thiết bị dạy học cho trường tiểu học làm cơ sở để Bộ ban hành danh mục đồ dùng dạy học cho học sinh cấp tiểu học và quản lý sử dụng thiết bị dạy học. Nghiên cứu có liên quan đến thiết bị dạy học có đề tài luận án tiến sỹ của tác giả Lê Tràng Định (2003) với tiêu đề: “Tổ chức cho học sinh lớp một sử dụng phương tiện trực quan trong giờ học trên lớp”.
Tác giả đã hệ thống hóa khái niệm phương tiện trực quan như một trong loại hình của thiết bị dạy học, phân loại phương tiện trực quan, phân tích sự cần thiết phải thay đổi phương pháp dạy học trực quan theo hướng giáo viên tổ chức, tạo điều kiện cho học sinh sử dụng phương tiện trực quan vào hoạt động nhận thức của mình.