Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên rừng phòng hộ đóng vai trò thiết yếu đối với an ninh sinh thái, điều tiết nguồn nước, phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế xã hội bền vững tại các địa phương miền núi, ven biển. Tại huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh, tổng diện tích đất lâm nghiệp ghi nhận đạt 20.985,2 ha, chiếm 64,2% tổng diện tích tự nhiên, với tỷ lệ độ che phủ rừng duy trì ở mức 57,1%. Trong cấu trúc lâm nghiệp của huyện, diện tích rừng phòng hộ chiếm 7.062,2 ha, tương đương 33,65% diện tích đất có rừng, giữ vị trí then chốt trong việc bảo vệ hồ chứa nước Đầm Động với dung tích 12,3 triệu m3 và duy trì thảm rừng ngập mặn ven bờ.

Tuy nhiên, áp lực từ phát triển hạ tầng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp cùng những hạn chế trong phân bổ nguồn lực đã tạo ra nhiều thách thức lớn cho công tác quản lý tài nguyên rừng phòng hộ. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Vũ Thế Hùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Triều Hoa tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán: Làm thế nào để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với rừng phòng hộ trên địa bàn cấp huyện theo hướng bền vững. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian tại huyện Đầm Hà, phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2015 - 2019 và định hướng hoàn thiện đến năm 2020 cùng các năm tiếp theo. Kết quả của công trình mang lại giá trị thực tiễn to lớn trong việc bảo tồn 6.237,8 ha rừng tự nhiên, cải thiện sinh kế cho hàng trăm hộ dân nhận khoán và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính quyền địa phương với các chủ rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba nền tảng lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế tài nguyên: Khẳng định quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu đối với tài nguyên rừng, sử dụng các công cụ quy hoạch, chính sách giao khoán và chế tài hành chính để điều chỉnh các quan hệ kinh tế - môi trường.
  2. Lý thuyết phát triển bền vững và dịch vụ môi trường rừng (PES): Xác định rừng phòng hộ vừa tạo ra các giá trị bảo tồn sinh thái không thể thay thế, vừa cung cấp nguồn thu hợp pháp thông qua chi trả dịch vụ môi trường rừng và khai thác lâm sản phụ dưới tán.
  3. Khung thể chế phân cấp quản lý lâm nghiệp cấp huyện: Phân định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm và Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Điều 5 và Điều 55 Luật Lâm nghiệp năm 2017.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: Tài nguyên rừng phòng hộ, Quản lý nhà nước về kinh tế lâm nghiệp, Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), Tái sinh phục hồi rừng và Đơn vị quản lý tiểu khu (bình quân 1.000 ha theo tiêu chuẩn lâm sinh).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2015 - 2019 của Ủy ban nhân dân huyện Đầm Hà, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, Hạt Kiểm lâm và Ban quản lý rừng phòng hộ Đầm Hà. Dữ liệu sơ cấp được tổng hợp thông qua điều tra hiện trường trên 6 đơn vị hành chính xã và khảo sát chọn mẫu định mức kết hợp ngẫu nhiên phân tầng đối với 315 hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng cùng 15 cán bộ phụ trách lâm nghiệp cấp huyện và xã.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng là nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả vùng rừng phòng hộ đầu nguồn (như xã Quảng Lâm, Quảng An) và vùng rừng phòng hộ ngập mặn xung yếu (như xã Đại Bình, Tân Lập, Tân Bình). Phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh định lượng được áp dụng để đối chiếu giữa mục tiêu quy hoạch với kết quả thực tế đạt được, từ đó lượng hóa mức độ biến động diện tích, trữ lượng gỗ 60.600 m3 của rừng phòng hộ và đánh giá độ chính xác của các chỉ tiêu sử dụng đất lâm nghiệp đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng quản lý rừng phòng hộ tại huyện Đầm Hà giai đoạn 2015 - 2019 đã chỉ ra bốn phát hiện quan trọng:

  • Cơ cấu và chất lượng diện tích: Tổng diện tích quy hoạch rừng phòng hộ là 7.062,2 ha. Đất có rừng đạt 6.615,3 ha, chiếm 93,67% diện tích rừng phòng hộ, trong đó rừng tự nhiên chiếm 88,33% (6.237,8 ha), rừng trồng chiếm 5,34% (377,4 ha) và đất chưa có rừng còn 447,0 ha (6,33%). Mặc dù tỷ lệ đất có rừng đạt mức cao, nhưng chất lượng rừng chưa đồng đều khi diện tích rừng phục hồi chiếm 4.323,7 ha và rừng nghèo chiếm 784,4 ha với trữ lượng gỗ chỉ từ 30 - 40 m3/ha.
  • Trữ lượng lâm sản và tài nguyên gỗ: Tổng trữ lượng gỗ của toàn huyện đạt 464.600 m3, nhưng trữ lượng rừng phòng hộ chỉ chiếm 13,0% (tương đương 60.600 m3). Trữ lượng bình quân của rừng gỗ tự nhiên đạt 138 m3/ha ở trạng thái rừng trung bình (diện tích 185,8 ha) và 36 m3/ha ở rừng trồng.
  • Hiệu quả kinh tế - sinh thái từ giao khoán và dịch vụ môi trường: Toàn huyện có 3.651,1 ha rừng phòng hộ thuộc lưu vực hồ Đầm Động được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hơn 110 ha rừng thông phòng hộ giao khoán cho các hộ dân đã đem lại sản lượng khai thác nhựa đạt 13,3 tấn/năm (người dân được hưởng lợi 65% sản phẩm), đồng thời hệ thống 2.513,8 ha rừng ngập mặn mang lại thu nhập từ 500.000 đến 600.000 đồng/ngày/hộ từ đánh bắt thủy hải sản.
  • Hiện trạng phân cấp quản lý: Ban quản lý rừng phòng hộ Đầm Hà trực tiếp quản lý diện tích lớn nhất với 6.361,7 ha; Ủy ban nhân dân các xã quản lý 460,9 ha; các doanh nghiệp tư nhân quản lý 239,6 ha. Tình trạng ranh giới giữa các chủ quản lý đôi lúc còn thiếu mốc giới thực địa cụ thể.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy công tác quản lý tài nguyên rừng phòng hộ tại huyện Đầm Hà đã đạt được sự ổn định về diện tích nhưng còn hạn chế về chất lượng lâm phần và năng lực ứng dụng công nghệ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nguồn lực tài chính đầu tư cho lâm sinh còn phân tán, lực lượng kiểm lâm địa bàn mỏng (bình quân mỗi cán bộ phụ trách hàng nghìn hecta địa hình núi dốc) và thói quen canh tác nương rẫy truyền thống của cộng đồng dân cư vùng cao.

Khi so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại mô hình rừng phòng hộ Hồng Lĩnh (tỉnh Hà Tĩnh - nơi đã lập hồ sơ đóng mốc ranh giới trên 19 phường xã, nâng độ che phủ từ 20% lên trên 60%) và mô hình Đắk Blô (tỉnh Kon Tum - giao khoán ổn định 4.600 ha cho 315 hộ), Đầm Hà có ưu thế vượt trội về hệ sinh thái rừng ngập mặn 2.513,8 ha và hồ thủy lợi 12,3 triệu m3 nhưng lại đi sau về quy chuẩn số hóa bản đồ.

Dữ liệu của luận văn có thể được trình bày trực quan thông qua: Biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu diện tích 3 loại rừng (rừng tự nhiên chiếm 88,33%, rừng trồng 5,34%, đất trống 6,33%); Biểu đồ cột chồng so sánh diện tích rừng phòng hộ phân bổ qua 6 xã (dẫn đầu là xã Quảng Lâm với 3.694,1 ha, thấp nhất là xã Tân Lập với 371 ha); Bảng ma trận đối chiếu chỉ tiêu điều chỉnh quy hoạch đất rừng phòng hộ đến năm 2020 đạt 7.460,03 ha theo Quyết định số 2624/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đề xuất và khuyến nghị

Để hoàn thiện toàn diện công tác quản lý tài nguyên rừng phòng hộ huyện Đầm Hà, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Rà soát quy hoạch và hoàn thiện hồ sơ cắm mốc ranh giới: Ủy ban nhân dân huyện Đầm Hà chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Hạt Kiểm lâm thực hiện cắm mốc ranh giới thực địa cho 100% các tiểu khu, đảm bảo mục tiêu điều chỉnh đất rừng phòng hộ đạt 7.460,03 ha (tăng 549,59 ha so với năm 2015) theo đúng Quyết định số 2624/QĐ-UBND, hoàn thành dứt điểm trong giai đoạn 2020 - 2022.
  2. Nâng cao hiệu quả tuần tra bằng công nghệ viễn thám và GIS: Hạt Kiểm lâm huyện Đầm Hà chủ trì trang bị phần mềm hệ thống thông tin địa lý (GIS) và định vị vệ tinh GPS cho đội ngũ kiểm lâm viên, kiểm soát biến động trên 20.985,2 ha đất lâm nghiệp, giảm thiểu số vụ cháy rừng và các vụ vi phạm lấn chiếm đất rừng xuống 0 vụ/năm trong giai đoạn 2021 - 2025.
  3. Mở rộng chính sách chi trả DVMTR và phát triển sinh kế đa mục tiêu: Ban quản lý rừng phòng hộ Đầm Hà liên kết với chính quyền 6 xã đẩy mạnh giao khoán bảo vệ 6.237,8 ha rừng tự nhiên; duy trì khai thác ổn định 13,3 tấn nhựa thông/năm trên 110 ha rừng trồng; phát triển mô hình du lịch sinh thái tại khu vực Thác Bạch Vân (xã Quảng An) và Núi Hứa nhằm tái đầu tư ngân sách cho công tác lâm sinh từ năm 2021.
  4. Tăng cường kiểm tra, thanh tra và tuyên truyền pháp luật lâm nghiệp: Ủy ban nhân dân huyện Đầm Hà định kỳ tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn, tuyên truyền Luật Lâm nghiệp 2017 mỗi năm cho hơn 1.200 lượt người dân sống tại vùng đệm, lồng ghép quy ước thôn bản bảo vệ 2.513,8 ha rừng ngập mặn với cơ chế giám sát cộng đồng thường xuyên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho bốn nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý nhà nước tại các Sở, Phòng Nông nghiệp và Chi cục Kiểm lâm: Tham khảo phương pháp xây dựng kế hoạch quản lý đất lâm nghiệp, quy trình thẩm định 7.062,2 ha rừng phòng hộ và cơ chế giám sát chuyển đổi mục đích sử dụng đất cấp huyện.
  • Ban quản lý rừng phòng hộ và các doanh nghiệp hoạt động lâm nghiệp: Tiếp cận kinh nghiệm tổ chức giao khoán 6.361,7 ha rừng cho cộng đồng, giải pháp phân chia lợi ích kinh tế (hưởng 65% sản phẩm lâm sản ngoài gỗ) và kỹ thuật khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 447,0 ha đất trống.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý kinh tế: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê thực chứng giai đoạn 2015 - 2019 của huyện Đầm Hà làm cơ sở dữ liệu phân tích các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và kinh tế tài nguyên thiên nhiên.
  • Chính quyền xã và cộng đồng dân cư sống ven rừng: Vận dụng các mô hình khai thác lâm sản phụ bền vững kết hợp bảo vệ 2.513,8 ha rừng ngập mặn nhằm nâng cao thu nhập hộ gia đình và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Rừng phòng hộ huyện Đầm Hà có cấu trúc diện tích và phân bố như thế nào?
Rừng phòng hộ Đầm Hà có quy mô 7.062,2 ha, phân bổ trên 6 xã với diện tích lớn nhất tại xã Quảng Lâm (3.694,1 ha) và nhỏ nhất tại xã Tân Lập (371 ha). Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 88,33% (6.237,8 ha), rừng trồng chiếm 5,34% (377,4 ha) và đất chưa có rừng là 447,0 ha.

Cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Đầm Hà đang được vận hành ra sao?
Hiện tại, diện tích 3.651,1 ha rừng phòng hộ thuộc lưu vực hồ Đầm Động được chi trả tiền DVMTR. Nguồn kinh phí này hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nhận khoán bảo vệ nguồn sinh thủy, đảm bảo cung cấp nước cho hồ chứa dung tích 12,3 triệu m3 phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.

Chất lượng trữ lượng rừng tự nhiên tại huyện Đầm Hà đạt mức độ nào?
Tổng trữ lượng rừng phòng hộ đạt 60.600 m3 (chiếm 13,0% trữ lượng rừng toàn huyện). Chất lượng lâm phần ở mức trung bình và nghèo; trong đó rừng nghèo (784,4 ha) chỉ đạt trữ lượng 30 - 40 m3/ha, còn rừng phục hồi chiếm ưu thế với 4.323,7 ha có mật độ từ 500 - 1.200 cây/ha.

Kinh nghiệm quản lý từ các địa phương khác mang lại bài học gì cho Đầm Hà?
Bài học từ mô hình Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) và Đắk Blô (Kon Tum) cho thấy việc cắm mốc ranh giới rõ ràng, giao khoán đất lâm nghiệp lâu dài kết hợp công tác kiểm tra thường xuyên giúp hạn chế tối đa tình trạng phá rừng, đồng thời gia tăng độ che phủ rừng bền vững trên 60%.

Mục tiêu điều chỉnh quy hoạch đất rừng phòng hộ huyện Đầm Hà đến năm 2020 là bao nhiêu?
Theo Quyết định số 2624/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, diện tích đất rừng phòng hộ huyện Đầm Hà được phê duyệt điều chỉnh đạt 7.460,03 ha, tăng thêm 549,59 ha so với năm 2015 nhằm củng cố hành lang an toàn sinh thái đầu nguồn và ven biển.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu và để lại nhiều giá trị cốt lõi:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về quản lý nhà nước đối với tài nguyên rừng phòng hộ ở cấp huyện gắn với các quy định mới của Luật Lâm nghiệp năm 2017.
  • Cung cấp bức tranh toàn cảnh về 7.062,2 ha rừng phòng hộ huyện Đầm Hà với độ che phủ toàn huyện đạt 57,1% và hệ sinh thái đa dạng từ rừng đầu nguồn đến rừng ngập mặn.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn về chất lượng rừng (rừng nghèo chiếm 784,4 ha) và cơ chế phân cấp quản lý giữa Ban quản lý với Ủy ban nhân dân cấp xã.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp toàn diện về quy hoạch, công nghệ GIS, chính sách DVMTR và sinh kế bền vững cho giai đoạn 2020 - 2025.
  • Khẳng định mục tiêu nâng diện tích rừng phòng hộ lên 7.460,03 ha là định hướng then chốt nhằm phát triển kinh tế biển và bảo vệ an ninh môi trường bền vững.

Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và địa phương có thể ứng dụng trực tiếp kết quả này vào công tác hoạch định chính sách lâm nghiệp thực tiễn.