CHƯƠNG 1 NGUỒN TÀI LIỆU NỘI SINH VỚI PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI 1. Những vấn đề lý luận chung về tổ chức quản lý nguồn tài liệu nội sinh 1. Khái niệm tài liệu nội sinh Trong phạm vi luận văn này, nguồn tài liệu nội sinh được hiểu là toàn bộ tài liệu được tạo ra từ hoạt động đào tạo, nghiên cứu của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội (ĐHBKHN) thuộc quyền sở hữu các chủ thể tạo ra các tài liệu. Chúng ta đều biết rằng thông tin khoa học được sản sinh ra trong quá trình hoạt động khoa học của mỗi con người, được tư liệu hóa và tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó có ba dạng chính: Tài liệu xuất bản; Tài liệu phù du (Lịch bay hàng không, tờ quảng cáo du lịch.) và tài liệu không xuất bản hay còn gọi là tài liệu xám (Tài liệu nội sinh).
Mặc dù là tài liệu không xuất bản nhưng loại tài liệu này vẫn được công bố rộng rãi dưới nhiều kênh phân phối đặc biệt và thu hút được sự quan tâm của đội ngũ những người làm công tác thông tin thư viện. Như vậy, tài liệu nội sinh là những tài liệu được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học kỹ thuật, sản xuất, quản lý, nghiên cứu, học tập của các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học… Tài liệu nội sinh phản ánh đầy đủ, có hệ thống về các thành tựu, tiềm lực cũng như hướng phát triển của những đơn vị này và thường được lưu giữ ở các thư viện và trung tâm thông tin của đơn vị đó. - Đặc điểm của nguồn tài liệu nội sinh: Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, truyền thống lịch sử, hệ thống đào tạo, nghiên cứu khoa học của từng trường mà số lượng và thành phần nguồn tin nội sinh của mỗi trường có khác nhau. Chính vì vậy, việc phân chia chúng thành các nhóm phục vụ cho công tác quản lý khai thác cũng theo các tiêu chí khác nhau.
Theo 14 tính chất của quá trình tạo ra nguồn tin nội sinh của trường đại học, tác giả Trần Mạnh Tuấn (2005) đã chia chúng thành 3 nhóm: * Nguồn tin phản ánh các kết quả hoạt động học tập đào tạo Thuộc loại này là các luận án, luận văn, các kết luận khoa học, các tư liệu điền dã, các tư liệu điều tra, các hồ sơ thí nghiệm, các chương trình đào tạo, giáo trình, đề cương bài giảng… * Nguồn tin phản ánh kết quả nghiên cứu khoa học Thuộc loại này là các báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học, các tư liệu trung gian được tạo nên từ việc triển khai các chương trình, các đề tài nghiên cứu khoa học, đề án, dự án sản xuất thử, các báo cáo khoa học, các kỷ yếu hội nghị, hội thảo… * Nguồn tin phản ánh tiềm lực đào tạo và nghiên cứu khoa học Thuộc loại này bao gồm các tài liệu về cơ cấu, quy mô, trình độ đào tạo, nguồn nhân lực khoa học, cơ sở vật chất kỹ thuật để triển khai các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, các thông tin phản ánh định hướng phát triển của nhà trường. Phương thức đào tạo theo tín chỉ Học chế tín chỉ ra đời và được áp dụng đầu tiên ở Viện đại học Harvard của Mỹ từ năm 1872. Đến đầu thế kỷ XX, hình thức tổ chức đào tạo này nhanh chóng được nhân rộng, áp dụng ở hầu hết các trường đại học ở Mỹ và nhiều trường đại học lớn trên thế giới để thay thế chương trình đào tạo theo niên chế. Ở Trung Quốc, việc triển khai đào tạo theo hệ thống tín chỉ cũng được bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 80.
Đặc biệt, năm 1999, 29 Bộ trưởng phụ trách GD&ĐT của các nước trong khối Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành không gian giáp dục châu Âu thống nhất vào năm 2010 trong đó có nội dung quan trọng là triển khai áp dụng học chế tín chỉ để tạo chương trình mềm dẻo, uyển 15 chuyển, cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của học viên, sinh viên trong khu vực châu Âu và trên thế giới. Trong giai đoạn đổi mới đất nước, để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước đã rất chú trọng tới phát triển GD&ĐT. Sự phát triển GD&ĐT được coi là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Chỉ có thể phát triển GD&ĐT đặc biệt là giáo dục đại học mới tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao để nhanh chóng đi tắt đón đầu nắm bắt KHCN hiện đại, rút ngắn khoảng cách lạc hậu và đuổi kịp các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
Phương thức đào tạo tín chỉ, sẽ giúp chúng ta đạt tới mục tiêu đào tạo với một học chế mềm dẻo thể hiện rõ tính dân chủ trong đào tạo, hướng về người học để tăng cường tính chủ động trong học tập, tự học tự nghiên cứu. Người học có cơ hội nâng cao ý thức trách nhiệm và khả năng linh hoạt trong việc chủ động chọn môn học, chọn thầy dạy, xây dựng chương trình và sắp xếp lịch học hợp lý nhất phù hợp với kinh phí, năng lực, thời gian và kế hoạch làm việc trong tương lai của mình. Phương thức đào tạo tín chỉ sẽ khắc phục được hạn chế lớn nhất của chương trình đào tạo theo niên chế là tính cứng nhắc, áp đặt nội dung học tập, thời gian học tập cho học viên và phương pháp truyền giảng thụ động một chiều. Việc đăng ký học và đánh giá bài giảng của thầy từ sinh viên là tiêu chí để đánh giá giảng viên tạo môi trường để giảng viên không ngừng tự hoàn thiện, nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm, cũng như tính kỷ luật, tác phong công nghiệp.
Hơn nữa phương thức đào tạo tín chỉ còn đảm bảo liên thông dễ dàng giữa các cấp đào tạo đại học, giữa các ngành đào tạo khác nhau trong quá trình học tập, tạo ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường sức lao động trong nước. Đồng thời làm hệ thống giáo dục đại học nước ta dễ dàng hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới có nền giáo dục tiên tiến. 16 Đổi mới giáo dục là vấn đề vĩ mô cần thực hiện lâu dài và được triển khai một cách đồng bộ trên nhiều khía cạnh, nhiều cấp độ tập trung ở những vấn đề sau: Thứ nhất, đổi mới chương trình đào tạo, nội dung giảng dạy Thứ hai, đổi mới phương thức dạy học trên cơ sở lấy người học làm trung tâm. Thứ ba, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho người học.
Một trong những nhiệm vụ cấp bách của Giáo dục đại học Việt Nam để hoàn thành sứ mệnh của mình một cách nhanh chóng là phải đổi mới giáo dục đại học trong đó có đổi mới phương thức đào tạo hiện hành – đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo theo tín chỉ. Vậy tín chỉ là gì? Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về tín chỉ, một trong những định nghĩa được nhiều nhà khoa học đánh giá tương đối đầy đủ, chính xác là định nghĩa của Jame Quan ( Giáo sư của Đại học Quốc gia Washington) được trình bày trong Hội thảo về Hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học KH&CN Hoa Trung ở Vũ Hán trước 28 chuyên gia của 28 trường đại học lớn nhất của Trung Quốc vào mùa hè năm 1985. Theo ông : Tín chỉ (Credit) là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học 1 môn học, bao gồm: 1) Thời gian học tập trên lớp; 2) Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học; 3) Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài. 17 Đối với môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ học trên lớp ( với hai giờ chuẩn bị ở nhà) trong 1 tuần và kéo dài trong một học kỳ 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm – ít nhất là 2 giờ trong một tuần ( với 1 giờ chuẩn bị ở nhà); đối với việc tự nghiên cứu – ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà người học cần phải tích luỹ được trong một khoảng thời gian nhất định.
Giờ tín chỉ (Credit hour) là một trong các giá trị: (a) 1 giờ học trên lớp và 2 giờ chuẩn bị bài / 1 tuần; (b) 2 giờ thực hành và 1 giờ chuẩn bị bài / 1 tuần; (c) 3 giờ tự học, tự nghiên cứu / 1 tuần. Chương trình đào tạo theo phương thức tín chỉ có những đặc điểm chính như sau: 1) Có khối lượng từ 120 đến 140 tín chỉ ( Để đạt được bằng cử nhân, sinh viên phải tích lũy đủ 120 – 136 tín chỉ như thông lệ của các trường đại học ở Mỹ, 120 – 135 tính chỉ như ở Nhật, 120 – 150 như ở Thái Lan…). Ở nước ta, theo Quyết định 31/QĐ- Bộ GD&ĐT ngày 30/7/2001 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: “ Để đạt được bằng cử nhân sinh viên phải tích lũy số tín chỉ tối thiểu là 140”. 2) Mỗi môn học trong Khung chương trình có thời lượng từ 2 đến 5 tín chỉ.
Mỗi môn học phải xác định rõ thời gian học trên lớp, thời gian thực hành ( ở trên lớp, phòng thí nghiệm, hay hiện trường) các hoạt động, thời gian tự đọc tài liệu, nghiên cứu, làm bài tập, chuẩn bị xê-mi-na ở nhà. 3) Có các môn học bắt buộc và có nhiều môn tự chọn, do vậy khung chương trình có số tính chỉ mà nhà trường tổ chức giảng dạy cho một chương trình bao giờ cũng lớn hơn số tín chỉ sinh viên cần phải tích lũy để hoàn thành chương trình đó.