Chương 1: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý tài chính tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Địa Ốc Novaland Chương 4: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao công tác quản lý tài chính tại Công Ty Cổ Phần Đầu Tư Địa Ốc Novaland.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1.1 Khái quát về quản lý tài chính của công ty cổ phần 1.1 Khái niệmvà đặc trưng của công ty cổ phần 1.1 Khái niệm công ty cổ phần Công ty cổ phần là một doanh nghiệp thuộc sở hữu của các nhà đầu tư, với mọi nhà đầu tư sở hữu cổ phần dựa trên số lượng cổ phiếu được mua. Các chủ sở hữu của một công ty cổ phần dự kiến sẽ chia lợi nhuận của nó. (Navibank, 2019) Công ty cổ phần còn được định nghĩa là một thực thể pháp lý, được thành lập để thực hiện các hoạt động sản xuất hoặc thương mại và có vốn được chia thành cổ phần do các thành viên được gọi là cổ đông nắm giữ. Trên lý thuyết người năm giữ cổ phần quản lý công ty cổ phần thông qua quyền biểu quyết tại hội đồng cổ đông hàng năm và bầu ra hội đồng quản trị, chức năng của hội đồng quản trị là quản lý hoạt động của công ty cổ phần.
(Thanh Hằng, 2018) Như vậy, công ty cổ phần là một dạng tổ chức có tư cách pháp nhân thể hiện qua nó có tư cách pháp lý độc lập, được pháp luật thừa nhận và có quyền tham gia vào các hoạt động pháp lý về chính trị kinh tế xã hội.Công ty cổ phần được thành lập, tồn tại độc lập với những người sáng lập và chủ sở hữu, đồng thời chỉ chịu trách nhiệm về những khoản nợ và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn cam kết.2 Đặc trưng của công ty cổ phần ❖ Số lượng cổ đông Số lượng cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu là ba và không giới hạn số lượng tối đa. Quyền sở hữu cổ phần là căn cứ xác lập tư cách cổ đông của người góp vốn. ❖ Vốn điều lệ (VĐL) Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh của một hoặc nhiều cổ phần.
Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. ❖ Chế độ chịu trách nhiệm 6 Chế độ chịu trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn. Công ty cổ phần phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ cuả công ty bằng tài sản của công ty. Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty trong phạm vi số vốn đã góp.
❖ Chuyển nhượng vốn Các cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các nhân, tổ chức khác một cách tự do trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập viên trong ba năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Khi có nhu cầu chuyển nhượng cổ phần trong 03 năm đầu các cổ đông phải chào bán cho các cổ đông còn lại và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông công ty khi được công ty chấp thuận. Các hạn chế về chuyển nhượng cổ phần được dỡ bỏ sau 03 năm đầu và các cổ đông khi này được quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. ❖ Phát hành chứng khoán Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật.
Chính vì thế công ty cổ phần là loại hình công ty có khả năng huy động vốn rất lớn. Chính cơ chế huy động linh hoạt này đã tạo điều kiện cho những cá nhân với số tiền nhỏ cũng có cơ hội đầu tư và hưởng lợi 1.2 Quản lý tài chính của công ty cổ phẩn 1.1 Khái niệm Hiện nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về quản lý tài chính: Theo Ezara Solomon,1963 cho rằng: Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể là tăng giá trị cho đơn vị đó. Ngoài ra theo Vũ Quang Kết, 2007: Quản lý tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không 7 ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Quản trị tài chính trong công ty cổ phần là một quá trình quản lý trong đó nhà quản trị tài chính xử lí các thông tin liên quan đến môi trường tài chính và môi trường nội bộ của công ty, giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ tài chính phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đưa ra các quyết định tài chính nhằm tối đa hoá giá trị công ty.
Mặc dù các khái niệm về quản lý tài cchính trên có nhiều quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung ta có thể rút ra: Quản lý tài chính là một bộ phận của quản trị doanh nghiệp chuyên về phân tích và xử lý các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp. Quản lý tài chính tại công ty cổ phần là hoạt động lựa chọn và đưa ra các quyết định tài chính, thực hiện các quyết định tài chính đó nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp.2 Đặc trưng Đặc điểm của công ty cổ phần đã mang lại cho hoạt động quản lý tài chính trong công ty cổ phần một số điểm khác biệt so với hoạt động quản lý tài chính trong các doanh nghiệp khác như: Mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản lý trong hoạt động quản trị tài chính công ty cổ phần. Tình huống này có thể xảy ra là khi nhà quản lý sở hữu một tỷ lệ cổ phần khiêm tốn trong doanh nghiệp mà họ quản lý, họ có thể không làm việc hết mình vì lợi ích của cổ đông bởi vì họ chỉ nhận được một phần nhỏ từ lợi nhuận công ty chia cho cổ đông (tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của nhà quản lý). Họ muốn có lương và bổng lộc cao hơn, điều này sẽ gây lên áp lực gia tăng chi phí đến cổ đông bên ngoài.
Hoặc nhà quản lý lợi dụng các thông tin nội bộ để từ đó có thể thâu gom cổ phiếu bên ngoài nắm quyền kiểm soát điều hành công ty, biến công ty từ công ty cổ phần đại chúng thành công ty cổ phần nội bộ hoặc công ty thuộc về một số cổ đông lớn là các cá nhân trong ban quản lý. Vậy phải làm sao để giải quyết mâu thuẫn, dung hòa được lợi ích của ban quản lý và lợi ích của cổ đông, lợi ích của cổ đông được bảo vệ, nhà quản lý tuân thủ theo quy định, điều lệ của công ty. Nguyên tắc công khai hóa thông tin tài chính – kế toán là bắt buộc đối với công ty 8 cổ phần đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng niêm yết, bởi vì công ty cổ phần là một loại hình tổ chức doanh nghiệp trong đó quyền sở hữu và quyền quản lý tách rời nhau nên thông tin về tình hình hoạt động của công ty nói chung và tình hình tài chính của công ty nói riêng dễ bị bưng bít, bóp méo ảnh hưởng đến việc xác lập giá trị của công ty trên thị trường chứng khoán, ảnh hưởng quan trọng đến quyết định đầu tư của công chúng, lúc đó không chỉ riêng các nhà đầu tư bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của cả nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, để bảo đảm quyền lợi chính đáng của công chúng đầu tư, luật pháp qui định cổ đông có quyền được thông báo về tình hình tài chính của công ty thường xuyên và khi có nhu cầu.
Mục tiêu của hoạt động quản trị tài chính là phải làm gia tăng được giá trị của doanh nghiệp trên thương trường, để thực hiện được mục tiêu này thì vai trò của nhà quản trị tài chính hết sức quan trọng, nhà quản trị tài chính phải đưa ra được các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh của công ty và diễn biến của nền kinh tế trong và ngoài nước, mà điều này không phải nhà quản trị tài chính nào cùng có thể làm được.3 Nguyên tắc Hoạt động tài chính của các loại hình doanh nghiệp cơ bản là giống nhau nên nguyên tắc quản lý tài chính đều có thể áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, các loại hình doanh nghiệp khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định nên khi áp dụng nên gắn với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp. Trong đó, các nguyên tắc quản lý tài chính áp dụng cho công ty cổ phần bao gồm: Nguyên tắc tuân thủ pháp luật, chính sách, quy định của nhà nước: đây là nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất mà tất cả các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế bắt buộc phải tuân thủ. Theo đó, mọi hoạt động tài chính của doanh nghiệp đều phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Nguyên tắc về quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận: Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận, các nhà đầu tư có thể lựa chọn những dự án đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận kỳ vọng mà họ mong 9 muốn. Khi các nhà đầu tư bỏ tiền vào những dự án có mức độ rủi ro cao, họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao hoặc có những nhà đầu tư bảo thủ họ sẽ lựa chọn đầu tư vào các dự án có rủi ro thắp nhưng đem lại lợi nhuận kỳ vọng ổn định. Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền: Để đo lường giá trị tài sản của chủ sở hữu, cần sử dụng giá trị thời gian của tiền, tức là phải đưa lợi ích và chi phí của dự án về một thời điểm nhất định, thường là thời điểm hiện tại. Theo nhà đầu tư, dự án được chấp nhận khi tổng lợi ích đem lại lớn hơn tổng chi phí.