Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI” 1.“Tài chính tại đơn vị dự toán quân đội” 1.“Đơn vị dự toán quân đội” Hiện nay có nhiều quan điểm về ĐVDT quân đội: “ĐVDT quân đội là những đơn vị chủ yếu làm nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ và chiến đấu… được bảo đảm tài chính để thực hiện nhiệm vụ từ nguồn Ngân sách chi cho quốc phòng là cơ bản” (Học viện Hậu cần, 2014). Hay “DVDT là cơ quan, đơn vị trực tiếp nhận, phân phối và sử dụng các khoản tiền được cấp phát từ quỹ NSNN. Có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc lập DTNS thuộc phạm vi, trách nhiệm; phân bổ DTNS cho đơn vị cấp dưới và tổ chức thực hiện DTNS được giao; tổ chức thực hiện công tác kế toán, QTNS của cấp mình và các đơn vị cấp dưới; hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện thu, chi ngân sách và xét duyệt báo cáo QTNS của các ĐVDT cấp dưới trực thuộc”. “Như vậy, ĐVDT quân đội có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu và đây là những đơn vị thụ hưởng NSNN.” Nghị định 165/2016/NĐ-CP ngày 24/12/2016 của Chính phủ quy định: Bộ Quốc phòng là ĐVDT cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính; Quân khu, quân đoàn và tương đương là ĐVDT cấp 2, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1; “Sư đoàn và tương đương là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2.
Riêng học viện, nhà trường và tương đương trực thuộc Bộ là ĐVDT cấp 3, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 1;” “Trung đoàn và tương đương là ĐVDT cấp 4, quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 3. Lữ đoàn độc lập và tương đương là ĐVDT cấp 4, được quan hệ trực tiếp với ĐVDT cấp 2.” “Các đơn vị trực thuộc là cấp chi tiêu cơ sở nhưng phải có nhân viên kế toán thực hiện ghi chép việc nhận kinh phí của trên cấp, thanh quyết toán kinh phí với cấp trên.” Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 “Nhiệm vụ, quyền hạn của các ĐVDT ngân sách nói chung và ĐVDT quân đội nói riêng được quy định tại điều 27 Luật NSNN năm 2015. Nhiệm vụ chủ yếu gồm: Lập dự toán, chấp hành và kế toán, QTNS; tổ chức quản lý vốn và tài sản, quản lý giá; thực hiện nghiệp vụ về kho bạc, ngân hàng có liên quan; tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các tổ chức kinh tế trong quân đội. Trong đó, công tác lập, chấp hành QTNS, thanh tra kiểm tra tài chính là những nội dung chủ yếu, có vai trò rất quan trọng trong quản lý tài chính tại các ĐVDT quân đội.Tài chính đơn vị dự toán quân đội” “Từ quan niệm về ĐVDT quân đội như trên, trong phạm vi đề tài tác giả đưa ra quan niệm về tài chính các ĐVDT quân đội như sau: Tài chính quân đội là một bộ phận của Tài chính Nhà nước, được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở kinh tế- xã hội nhất định.
Sự phát sinh, phát triển của sản xuất hàng hóa- tiền tệ cũng như sự ra đời và tồn tại của Nhà nước với những chức năng chính trị, kinh tế- xã hội là những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển của tài chính Nhà nước, trong đó có tài chính quân đội.” Từ những nhận định đã nêu trên, cùng với tính tất yếu từ nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, từ nhiệm vụ xây dựng và phát triển quân đội cho thấy, sự tồn tại và phát triển của tài chính quân đội là yêu cầu khách quan, là điều kiện cần thiết để quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ.Nguồn tài chính tại đơn vị dự toán quân đội” “ĐVDT quân đội là đơn vị thụ hưởng NSNN, thực hiện chức năng nhiệm vụ chủ yếu của quân đội; ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất làm kinh tế, tạo nguồn tài chính bổ sung kinh phí ngân sách. Do vậy, Tài chính – Ngân sách ở ĐVDT quân đội được hình thành từ những nguồn sau:” 1. Nguồn từ chi ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực quốc phòng để hình thành nên ngân sách quốc phòng “NSQP là một bộ phận cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống TCQĐ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 NSQP là quỹ tiền tệ tập trung của BQP, được hình thành từ nhiều nguồn tài chính khác nhau trong đó từ NSNN chi cho quốc phòng là chủ yếu.” “Do vị trí vai trò đặc biệt của nó nên NSQP được phân phối và sử dụng thống nhất, chặt chẽ dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ trưởng BQP để thực hiện các nhiệm vụ hàng năm của quân đội.” “Quy mô NSQP hàng năm hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng chi từ NSNN (NSTƯ và NSĐP); đồng thời còn căn cứ vào chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của quân đội; tổ chức biên chế, quân số, trang bị; chính sách chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi, giá cả… Ở phạm vi ĐVDT các cấp, nguồn NSNN cụ thể là NSQP được thể hiện ở chỉ tiêu kinh phí trên cấp sau khi DTNS năm của đơn vị được cấp có thấm quyền phê duyệt.” Nguồn chi từ NSNN cho quân đội từ đó được bảo đảm cấp phát cho các đơn vị, các ngành thuộc hệ thống tổ chức quân đội, bao gồm các nguồn sau: “NSQP thường xuyên: dùng để bảo đảm cho chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động thường xuyên của ĐVDT, như xây dựng lực lượng, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, đời sống chính sách.” “NSNN giao: có những nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho quân đội thực hiện ngoài phạm vi NSQP thường xuyên, như: Quản lý hành chính của Tòa án quân sự, Viện kiểm soát quân sự các cấp; Thi hành án dân sự trong quân đội; chi dự trữ nhà nước chuyên ngành; chi cho các công trình, dự án, chi hỗ trợ vốn các doanh nghiệp.
Những nhiệm vụ này được NSNN bảo đảm và quyết toán với nguồn NSNN giao.” “NSNN đầu tư tập trung trong quân đội: nguồn này được hình thành chủ yếu để đầu tư trong lĩnh vực XDCB trong quân đội. Thông thường được tổ chức thực hiện ở ĐVDT cấp 2 Quân đội và theo phương thức cấp phát, thanh toán riêng của BQP.” Ngân sách địa phương chi cho công tác QSQP: nguồn ngân sách này được hình thành ở các ĐVDT quân đội thuộc các Quân khu, Bộ chỉ huy quân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 sự tỉnh, thành phố, quận, huyện. nhằm bảo đảm cho công tác quân sự địa phương theo lĩnh vực, nhiệm vụ chi của NSĐP. Nguồn bổ sung ngân sách từ hoạt động sản xuất làm kinh tế - dịch vụ “Trong quân đội, có hai loại hình đơn vị chủ yếu: Khối các ĐVDT và khối các doanh nghiệp (có thể trực thuộc BQP, có thể trực thuộc quân khu, quân đoàn, Tổng cục.
Hàng năm, các loại hình đơn vị này đều có hoạt động sản xuất làm kinh tế, tạo ra một nguồn lực tài chính rất lớn; trong đó nguồn thu từ các DNQP là chủ yếu và quan trọng nhất bổ sung vào NSQP.” Tuy nhiên, ở các ĐVDT quân đội, kết quả hoạt động tạo nguồn thu từ SXKD - dịch vụ cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể và có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt: kinh tế, chính trị- xã hội; an ninh- quốc phòng. Theo chế độ quy định của BQP, trong khai thác tạo nguồn thu nội bộ ở ĐVDT quân đội, có những nội dung thu được phép trích bổ sung kinh phí vào ngân sách, dùng để hỗ trợ thêm các hoạt động huấn luyện đào tạo, khen thưởng, phúc lợi xã hội, bảo quản, sửa chữa trang thiết bị tại đơn vị; sửa chữa, xây dựng mới các công trình phổ thông. “Khi bổ sung vào kinh phí thì các khoản đó được coi như là một khoản kinh phí thuộc ngân sách; do đó phải được quản lý chi tiêu, sử dụng theo chế độ quy định. Đầu năm ngân sách, ĐVDT phải lập dự toán ngân sách đối với khoản này; khi được cấp trên phê duyệt mới được thực hiện và cuối năm quyết toán với trên.
Nguồn khác Là nguồn thu cần thiết, đáng kể nhưng không có tính chất thường xuyên hoặc chỉ có tính chất tạm thu chờ nộp trên hay chờ chi trả. “Nội dung của nguồn thu khác bao gồm: đảng phí, đoàn phí, giá trị hoặc hiện vật thu được từ việc cho, tặng của các tổ chức, đơn vị và nhân dân. Quản lý tài chính tại các đơn vị dự toán quân đội 1. Khái niệm “Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý bằng việc sử dụng các công cụ, phương pháp thích hợp tác động, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 điều khiển đối tượng quản lý, để các đối tượng này hoạt động, phát triển đạt tới các mục tiêu đã định.” “Trong khoa học quản lý phải xác định rõ các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố đòi hỏi phải được xác định đúng đắn.” “QLTC ở các ĐVDT là nhiệm vụ tất yếu xuất phát từ chức năng của TCQĐ, từ yêu cầu khách quan của quá trình điều hành hoạt động của hệ thống TCQĐ, nhờ đó các chức năng của TCQĐ được thực hiện và phát huy vai trò trong thực tiễn, hệ thống TCQĐ hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp.” “Trong thực tiễn, QLTC ở ĐVDT quân đội gồm các hoạt động tổ chức, chỉ huy, điều hành và giám sát, đôn đốc đối với các hoạt động khai thác nguồn bảo đảm chi tiêu sử dụng ngân sách trong đơn vị.
Thông qua công tác QLTC, các ngành, các đơn vị nắm được thực trạng tình hình hoạt động tài chính và những thông tin cần thiết. Trên cơ sở đó, có những biện pháp tác động tới các đối tượng quản lý, làm cho quá trình phân phối, sử dụng các nguồn tài chính và các nguồn lực khác đạt hiệu quả tốt.” Từ những vấn đề nêu trên, có thể khái niệm tổng quát về QLTC ở ĐVDT quân đội như sau: “QLTC ở ĐVDT quân đội là hoạt động của các chủ thể QLTC ĐVDT thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã định” (Học viện Hậu cần, 2014).