Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ DỰ TOÁN QUÂN ĐỘI 1. Những vấn đề chung về Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội Quản lý tài chính là nội dung cơ bản và quan trọng nhất của công tác tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội, quyết định đến chất lượng và hiệu quả chi tiêu, sử dụng ngân sách ở đơn vị, góp phần to lớn vào việc đơn vị SSCĐ và hoàn thành nhiệm vụ được giao, từng bước đưa quân đội tiến tới “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” Thực tế, quản lý NSNN ở mỗi cấp, mỗi ngành, là nội dung quan trọng bao trùm công tác quản lý tài chính ở mỗi cấp và ngành đó tùy điều kiện lịch sử cũng như việc phân cấp quản lý tài chính do nhà nước quy định. Do vậy, việc nhận thức sâu sắc và toàn diện về NSNN là nội dung, yêu cầu vừa mang tính lý luận cũng như yêu cầu tất yếu của công tác quản lý tài chính trong quân đội. Đơn vị dự toán quân đội Đơn vị dự toán quân đội (QĐ) là đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước (NSNN), ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất làm kinh tế, tạo nguồn tài chính bổ sung kinh phí ngân sách… Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam: “Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, đơn vị trực tiếp nhận phân phối và sử dụng các khoản tiền được cấp phát từ quỹ ngân sách Nhà nước.
Có nhiệm vụ và quyền hạn trong việc lập dự toán ngân sách thuộc phạm vi trách nhiệm; phân bổ dự toán ngân sách cho đơn vị dự toán cấp dưới và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách được giao; tổ chức thực hiện công tác kế toán, quyết toán ngân sách của cấp mình và công tác kế toán, quyết toán ngân sách của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 các đơn vị cấp dưới; hướng dẫn, kiểm tra việc thu, chi ngân sách và xét duyệt báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc”. Điều 20 Nghị định số 10/2004/NĐ-CP ngày 07/01/2004 của Chính phủ quy định, các đơn vị DTNS thuộc Bộ Quốc phòng (BQP) bao gồm: - BQP là đơn vị dự toán cấp 1, quan hệ trực tiếp với Bộ Tài chính; - Quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, tổng cục và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 2, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 1; - Sư đoàn và tương đương là đơn vị dự toán cấp 3, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2. Riêng học viện, nhà trường và đơn vị tương đương thuộc BQP là đơn vị dự toán cấp 3, được trực tiếp quan hệ với đơn vị dự toán cấp 1; - Lữ đoàn và đơn vị tương đương là đơn vị dự toán cấp 4, quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 3. Riêng lữ đoàn và trung đoàn độc lập là đơn vị dự toán cấp 4, được quan hệ trực tiếp với đơn vị dự toán cấp 2; - Các đơn vị trực thuộc không có ngân sách (NS) độc lập, là cấp dự toán chỉ tiêu cơ sở; kế toán thực hiện ghi chép việc nhận kinh phí do cấp trên cấp để chi tiêu, thanh quyết toán kinh phí với cấp trên".
Nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị dự toán NSNN nói chung và đơn vị DTQĐ nói riêng được qui định tại Điều 27 Luật NSNN (2002). Nhiệm vụ chủ yếu gồm: Lập dự toán NSNN; chấp hành và kế toán, quyết toán NSNN; tổ chức quản lý vốn và tài sản, quản lý giá; thực hiện nghiệp vụ về kho bạc, ngân hàng có liên quan; tổ chức thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đối với các tổ chức kinh tế trong QĐ. Trong đó, công tác lập, chấp hành quyết toán ngân sách (QTNS), thanh tra kiểm tra tài chính là những nội dung chủ yếu, có vai trò rất quan trọng trong quản lý ngân sách sử dụng (NSSD). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quản lý tài chính ở đơn vị dự toán quân đội 1. Nhận thức về quản lý tài chính ở các đơn vị dự toán quân đội Thuật ngữ “quản lý” được sử dụng khá phổ biến trên mọi lĩnh vực như: quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp, quản lý tài chính. Nhìn chung, có thể hiểu “quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên các khách thể nhằm đạt được mục tiêu đã định trước”. Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế và là khâu quản lý mang tính tổng hợp.
Thực chất của quản lý tài chính (TC) là các chủ thể quản lý sử dụng các phương pháp, các công cụ tác động tới đối tượng quản lý nhằm thực hiện những mục đích nhất định trong lĩnh vực kinh tế- tài chính. Quản lý TCQĐ là một nội dung quan trọng của quản lý TC, đó là quá trình tổ chức, điều hành, kiểm soát việc thực hiện các chế độ, tiêu chuẩn, định mức theo đúng ngân sách (NS) được duyệt. Nói cách khác, quản lý TC là tổng thể hoạt động của các chủ thể được xác định theo quy định của pháp luật, thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ quản lý; được thể hiện từ khâu lập dự toán tài chính (DTTC), chấp hành NS; QTTC, gắn liền với hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính, nhằm bảo đảm đúng, đủ, kịp thời và quản lý chặt chẽ các khoản kinh phí thuộc TC, đáp ứng tốt mọi nhiệm vụ được giao và các mặt công tác, đời sống, chính sách. Hệ thống quản lý TC nói riêng, quản lý tài chính quân đội bao gồm lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan chuyên môn các tổ chức cá nhân trong đơn vị theo chức trách có vai trò tham mưu và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan tài chính, các ngành nghiệp vụ cùng với sự tham gia dân chủ tích cực của mọi tổ chức, cá nhân trong đơn vị sử dụng NS.
Trong quản lý TC, các chủ thể quản lý có thể sử dụng các phương pháp quản lý và công cụ quản lý khác nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Phương pháp tổ chức được sử dụng trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động nghiệp vụ và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động đó. Đây là sự tập hợp các hoạt động có liên quan của cơ quan TC, cán bộ, quân lực, chính sách, hậu cần, kỹ thuật… thực hiện dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị nhằm bảo đảm đúng, đủ, kịp thời về kinh phí, NS và quản lý TC chặt chẽ, hiệu quả. Phương pháp hành chính được sử dụng khi các chủ thể quản lý TC muốn các yêu cầu của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện.
Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính. Phương pháp kinh tế được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích kinh tế để kích thích tính tích cực của khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức, cá nhân thuộc quyền đang tiến hành các hoạt động TC, trong đó có hoạt động quản lý TC. Hệ thống văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực tài chính QĐ được sử dụng để quản lý và điều hành NS được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong quản lý NS, công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý TC, chế độ tiêu chuẩn, định mức kinh phí, các chế độ TC, kế toán, thống kê… Cùng với pháp luật, chính sách, hàng loạt các công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý TC như: kiểm tra, thanh tra TC, kiểm toán, kiểm soát chi… Mỗi công cụ trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng theo các cách khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích thúc đẩy, nâng cao chất lượng quản lý NS nói riêng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của TCQĐ nói chung.
Nguyên tắc quản lý tài chính trong đơn vị dự toán quân đội Quản lý TC dựa trên những nguyên tắc quản lý nhất định; đó là: nguyên tắc quản lý theo dự toán; nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả và nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 * Nguyên tắc quản lý theo dự toán DTNS là một trong những công cụ có hiệu lực trong quản lý, điều hành NS. Luật NSNN quy định lập DTNS là một chế độ cơ bản của công tác TC ở đơn vị DTNS nhằm xác định nhu cầu để bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Lập DTNS là khâu đầu tiên của một chu trình quản lý NSNN.
Những khoản chi khi đã được ghi vào dự toán chi được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chi được ghi trong DTNS thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý TC nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NS. Do đó, nguyên tắc quản lý chi theo dự toán là nguyên tắc mang tính tất yếu khách quan đối với tất cả các đơn vị DTNS. Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi NSSD được nhìn nhận qua các góc độ sau: Mọi nhu cầu chi dự kiến cho kế hoạch năm sau nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí cuối năm trước từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan có thẩm quyền từ thấp đến cao (quyết định cuối cùng cho dự toán chi NSNN cho lĩnh vực quốc phòng- an ninh (QP-AN) thuộc về Quốc hội).
Vì thế, các ngành, các cấp, các đơn vị phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi đã được cấp trên phê duyệt cho cấp mình. Mặt khác, DTNS cũng chính là căn cứ chi tiêu, sử dụng kinh phí đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức và đúng đối tượng sử dụng, các đơn vị thụ hưởng NS phải căn cứ chỉ tiêu DTNS được giao làm cơ sở bảo đảm tài chính trong một năm NS. Toàn bộ nhu cầu tài chính của đơn vị đều được thể hiện trong DTNS đã được giao, do đó, việc lập DTNS chính xác sẽ quyết định đến chất lượng, hiệu quả của quá trình chi tiêu sử dụng kinh phí tại đơn vị. Điều này vô cùng quan trọng do toàn bộ nguồn lực tài chính của các đơn vị DTQĐ chủ yếu từ NSNN cấp.