phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Lý luận chung về quản lý Nhà nƣớc về rừng sản xuất trên địa bàn huyện. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nƣớc về rừng sản xuất trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum. Chƣơng 3: Một số giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nƣớc về rừng sản xuất trên địa bàn huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ RỪNG SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. KHÁI QUÁT VỀ RỪNG SẢN XUẤT VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ RỪNG SẢN XUẤT 1.
Khái niệm rừng sản xuất Rừng sản xuất là một loại rừng. Vì vậy, để hiểu đƣợc khái niệm rừng sản xuất, trƣớc tiên cần tìm hiểu về khái niệm rừng. Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển. Theo định nghĩa của FAO, rừng là những diện tích đất lớn hơn 0,5ha, có cây gỗ bao phủ ít nhất 10% diện tích, mà trƣớc đây không phải là đất nông nghiệp hoặc đô thị.
Quần xã sinh vật phải có một diện tích đủ lớn và có mật độ cây nhất định để giữa quần xã sinh vật với môi trƣờng, giữa các thành phần của quần xã sinh vật có mối quan hệ để hình thành hoàn cảnh rừng khác với hoàn cảnh bên ngoài”. Theo Luật lâm nghiệp năm 2017, “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trƣờng khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trƣng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên”. Có nhiều cách phân loại rừng. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng đƣợc phân thành rừng sản xuất, rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Trong đó, rừng sản xuất (hay rừng kinh tế) là rừng được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản ngoài gỗ và kết hợp chức năng phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu.[18] 9 Rừng sản xuất gồm rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng. - Rừng sản xuất là rừng tự nhiên gồm có: Rừng tự nhiên và rừng đƣợc phục hồi bằng biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; căn cứ vào trữ lƣợng, chất lƣợng bình quân trên một hecta rừng tự nhiên đƣợc phân loại thành: Rừng giàu, rừng trung bình, rừng nghèo, rừng nghèo kiệt và rừng chƣa đạt trữ lƣợng. - Rừng sản xuất là rừng trồng gồm có: Rừng trồng bằng vốn ngân sách Nhà nƣớc cấp, rừng trồng bằng vốn chủ rừng đầu tƣ (vốn Doanh nghiệp, vốn vay, vốn liên doanh, liên kết không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nƣớc) hoặc có hỗ trợ của Nhà nƣớc và các nguồn vốn khác. Đặc điểm rừng sản xuất Theo Hoàng Văn Tuấn (2015), rừng sản xuất có một số đặc điểm cơ bản nhƣ sau [17]: Rừng sản xuất phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên, sinh thái: Không phải bất kỳ ở đâu cũng có thể trồng rừng sản xuất mà chỉ những vùng có diện tích đất trống đồi núi trọc, có điều kiện về đất đai, địa hình, thổ nhƣỡng, sinh thái phù hợp mới có thể phát triển rừng sản xuất.
Rừng sản xuất đƣợc phát triển nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động. Rừng sản xuất đƣợc phát triển nhằm nâng cao độ che phủ, bảo vệ môi trƣờng sinh thái và phát triển bền vững. Rừng sản xuất góp phần làm tăng lƣu vực nguồn sinh thủy và khả năng phòng hộ đầu nguồn các hồ đập, điều tiết dòng chảy chống xói mòn, rửa trôi đất, cải thiện và điều hòa khí hậu trong vùng sinh thái, tạo môi trƣờng sống thuận lợi cho các loài động vật rừng sinh sống và phát triển. Việc trồng và phát triển rừng giúp tăng giá trị dịch vụ môi 10 trƣờng nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu sản xuất, đời sống, thúc đẩy phát triển bền vững.
Khái niệm quản lý Nhà nƣớc về rừng sản xuất Thuật ngữ quản lý thƣờng đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào góc độ khoa học khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu. Quản lý là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dƣới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội [5]. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định [4].
Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đƣa hệ thống vào thế “phát triển”. Nhƣ vậy, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu quản lý [19]. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng nhƣ cách tiếp cận của ngƣời nghiên cứu.
Quản lý Nhà nƣớc là một dạng của quản lý xã hội [9].Đây là một quá trình phức tạp, đa dạng. Theo nghĩa rộng, quản lý Nhà nƣớc đề cập đến chức năng của cả bộ máy nhà nƣớc, từ hoạt động lập hiến, lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tƣ pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý Nhà nƣớc là hoạt động chấp hành của cơ quan quản lý Nhà nƣớc. Hoạt động này chủ yếu giao cho hệ thống cơ quan hành chính thực hiện, đó là các chủ thể quản lý.
Quản lý Nhà nƣớc không phải là sự quản lý đối với Nhà nƣớc mà là sự 11 quản lý có tính chất nhà nƣớc, của nhà nƣớc đối với xã hội [5]. Quản lý Nhà nƣớc đƣợc thực hiện bởi quyền lực nhà nƣớc. Nhƣ vậy, quản lý Nhà nƣớc mang tính chất quyền lực Nhà nƣớc, có tính chất tổ chức cao, mang tính mệnh lệnh của nhà nƣớc. Quản lý Nhà nƣớc mang tính tổ chức và điều chỉnh chủ yếu, mang tính tổ chức và kế hoạch và mang tính liên tục.
Quản lý Nhà nƣớc đối với rừng sản xuất trên địa bàn một huyện là tổng hợp các hoạt động về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các quy định pháp luật của các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã có chức năng theo phân cấp trong Luật Lâm nghiệp, Luật Đất đai và các quy định khác có liên quan đối với rừng sản xuất và quá trình sử dụng, giao dịch rừng sản xuất trong địa giới hành chính của huyện [3]. Nguyên tắc quản lý nhà nƣớc về rừng sản xuất Quản lý nhà nƣớc đối với rừng nói chung và rừng sản xuất nói riêng là một bộ phận không tách rời của quản lý hành chính Nhà nƣớc. Do đó, phải tuân thủ các nguyên tắc chung trong quản lý hành chính Nhà nƣớc nhƣ nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý hành chính Nhà nƣớc; nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý hành chính Nhà nƣớc; nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa;…[12]. Đối với rừng sản xuất, quản lý Nhà nƣớc cần tuân thủ theo một số nguyên tắc đặc thù sau: - Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước: Rừng sản xuất có vai trò rất quan trọng với cuộc sống của con ngƣời và đối với nền kinh tế - xã hội, do đó Nhà nƣớc phải thống nhất quản lý trong lĩnh vực rừng sản xuất là cần thiết, để đảm bảo cho việc duy trì mục tiêu chung của xã hội.
Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện theo luật pháp và thể hiện trên nhiều mặt nhƣ quyền giao đất, giao rừng, cho thuê rừng đối với các tổ chức hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cƣ thôn bản, 12 quyền định giá rừng, quyền chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của chủ rừng và xử lý những hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp. Pháp luật hiện hành quy định và quyết định đối với rừng tự nhiên, rừng sản xuất đƣợc phát triển bằng vốn của Nhà nƣớc, rừng do Nhà nƣớc nhận chuyển quyền sở hữu RSX là rừng trồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trƣờng rừng. Tuy nhiên, Nhà nƣớc có thể trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng qua hình thức giao rừng, cho thuê rừng, công nhận quyền sử dụng đất rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; quy định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng. - Bảo đảm sự phát triển bền vững Rừng là một bộ phận của môi trƣờng tự nhiên và cũng là một thành phần tƣ liệu sản xuất quan trọng của nền kinh tế.
Do đó, việc khai thác, bảo vệ và phát triển rừng phải đáp ứng khả năng tái tạo của rừng nhằm đảm bảo môi trƣờng sống cũng nhƣ điều kiện sản xuất của con ngƣời. Nhƣ vậy, hoạt động quản lý Nhà nƣớc đối với rừng sản xuất là phải đảm bảo sự phát triển bền vững. Theo quy định của Nhà nƣớc Việt Nam, quản lý Nhà nƣớc đối với rừng sản xuất phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, môi trƣờng, an ninh quốc phòng, phù hợp với chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp, đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của nhà nƣớc, địa phƣơng, tuân thủ theo quy chế quản lý rừng do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ quy định. - Bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích Rừng là một quần thể sinh thái có rất nhiều chức năng khác nhau, bao gồm cả bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, bảo vệ môi trƣờng…Ngoài ra, do rừng mang lại những nguồn lợi lớn, đặc biệt là 13 nguồn lợi kinh tế nên rừng có vai trò quan trọng đối với nhiều đối tƣợng trong xã hội và Nhà nƣớc.