Chương 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG GIAO NHẬN HÀNG HÓA 1. Khái niệm về dịch vụ giao nhận 1. Khái niệm về logistics Logistics có thể được hiểu là một lĩnh vực quản lý bao gồm các hoạt động liên quan đến việc vận chuyển, lưu kho, phân phối hàng hóa và quản lý thông tin trong chuỗi cung ứng.
Nói đến logistics là nói đến lập kế hoạch, các kế hoạch đơn lẻ của dòng chảy sản phẩm, thông tin liên quan… từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ, nơi sử dụng cuối cùng; đó là tập hợp các hoạt động nhằm đảm bảo cung cấp các thành phần cần thiết một cách kịp thời và hiệu quả. Theo điều 233 Luật Thương mại định nghĩa về logistics, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện theo một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Hay logistics còn được hiểu là việc lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát việc di chuyển hàng hóa và thông tin từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ (theo Hiệp hội Vận tải Hàng hóa Hoa Kỳ - American Trucking Associations). Theo đó, có thể hiểu đơn giản logistics là việc quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng, bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc di chuyển hàng hóa, kiểm soát sự lưu thông các luồng hàng hóa, nguyên vật liệu, dịch vụ và thông tin từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Hiện nay, theo Nghị định 163/2017/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 30/12/2017, dịch vụ logistics được phân loại thành 16 loại hình dịch vụ chính như sau: − Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay. − Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển. 1 − Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải. − Dịch vụ chuyển phát.
− Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. − Dịch vụ đại lý làm dịch vụ hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan). − Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lương; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải. − Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.
− Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển. − Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa. − Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt. − Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.
− Dịch vụ vận tải hàng không. − Dịch vụ vận tải đa phương thức. − Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật. − Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
Về phạm vi, logistics có thể chỉ bao gồm các hoạt động trong nội bộ một doanh nghiệp hoặc các hoạt động giữa doanh nghiệp với các chủ thể khác như đối tác doanh nghiệp, khách hàng cá nhân. Về loại hình, có doanh nghiệp tự cung (doanh nghiệp tự cung cấp dịch vụ logistics) hoặc doanh nghiệp dịch vụ (doanh nghiệp chuyên cho thuê ngoài dịch vụ logistics). Từ điều này, hiện nay ta có thể chia các doanh nghiệp logistics thành loại hình doanh nghiệp theo 4 phương thức như sau: − 1PL (First Party Logistics – Mô hình Logistics tự cấp): 1PL (First Party Logistics) là để chỉ doanh nghiệp sản xuất – thương mại tự đảm nhiệm hoạt động logistics cho chính mình, tự đứng ra điều hành hoạt động logistics 2 bao gồm sở hữu hàng hóa, lưu trữ và quản lý kho hàng, xử lý đơn hàng, đóng gói đến việc vận chuyển, giao hàng. Cũng tại đó, doanh nghiệp cũng sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, các thiết bị và nguồn lực khác cùng với đội ngũ nhân viên có chuyên môn để thực hiện các hoạt động logistics.
Đặc điểm của những doanh nghiệp áp dụng mô hình 1PL: là những doanh nghiệp có quy mô lớn, có nhu cầu vận chuyển và lưu kho hàng hóa cao, là những doanh nghiệp logistics toàn cầu có khả năng tự đầu tư vào cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho các hoạt động logistics. − 2PL (Second Party Logistics – Mô hình cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai) Đây là hình thức doanh nghiệp thuê một nhà cung cấp dịch vụ logistics bên ngoài để thực hiện một hoặc một số hoạt động logistics như vận chuyển, lưu kho hoặc phân phối hàng hóa. Những công ty cung cấp dịch vụ 2PL thường sở hữu và sử dụng phương tiện vận tải chuyên dụng để phục vụ cho công việc vận chuyển đặc thù của họ, đảm nhận vai trò vận chuyển của một khâu đặc thù hay cung cấp các dịch vụ vận chuyển đơn lẻ trong toàn bộ chuỗi logistics của một công ty khi khách hàng yêu cầu 2PL thực hiện. − 3PL (Third Party Logistics – Mô hình cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba – Logistics hợp đồng) Doanh nghiệp cung cấp dịch vị này sẽ thực hiện các dịch vụ Logistics trong từng khâu nhỏ trong chuỗi cung ứng Logistics như: kho bãi, vận chuyển, đóng gói…Thường các công ty sử dụng 3PL sẽ thuê các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động logistics, có thể là toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc là một vài nghiệp vụ theo nhu cầu của khách hàng.
Đây là các hoạt động do một công ty cung cấp dịch vụ logistics thực hiện trên danh nghĩa khách hàng của họ, các công ty dịch vụ logistics, forwarder, các công ty vận tải, hỗ trợ dịch vụ hoat động nhờ vào nhu cầu về dịch vụ của chủ hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm chia sẻ thông tin, rủi ro, và các lợi ích theo một hợp đồng dài hạn. 3 − 4PL (Fourth Party Logistics - Mô hình cung cấp dịch vụ logistics thứ tư – Logistics chuỗi phân phối) 4PL là phần quản lý và thực hiện các hoạt động logistics phức tạp bao gồm quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối kiểm soát. Các doanh nghiệp 4PL hình thành và phát triển trên nền tảng của 3PL, 4PL bao gồm và phát triển các hoạt động rộng hơn, mang tính quy mô hơn như các dịch vụ công nghệ thông tin và quản lý các tiến trình kinh doanh. 4PL được xem như là nơi thực hiện việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các chức năng của 3PL trong suốt chuỗi phân phối.
Hình thức 4PL ảnh hưởng không chỉ đến hệ thống logistics mà còn là toàn bộ chuỗi cung ứng của khác hàng. Các công ty logistics cung cấp dịch vụ 4PL thường là công ty liên doanh và có hợp đồng hợp tác dài hạn, mang tính tầm nhìn chiến lược lâu dàu. Những doanh nghiệp này đóng vai trò như cầu nối giữa khách hàng với nhà cung ứng và nhà phân phối, từ đó giúp chuỗi cung ứng được phát triển phù hợp với tầm nhìn chung của công ty khách hàng. Khái niệm về dịch vụ giao nhận Trước tiên ta cần tìm hiểu nhiệm vụ của một công ty giao nhận là gì, công ty giao nhận hay đại lý giao nhận hàng hóa là cá nhân hoặc công ty đứng ra tổ chức vận chuyển các lô hàng cho các cá nhân hoặc các công ty khác.
Thông thường công ty giao nhận hàng hóa đứng trách nhiệm như một nhà vận chuyển thụ động, tức là làm đại lý cho nhà vận chuyển (hãng tàu, hãng Hàng không, hãng xe tải, hãng tàu hỏa) để tiến hành đặt chỗ, bố trí tải và thủ tục khác. Các thủ tục khác bao gồm chuẩn bị và xử lý các chứng từ vận tải quốc tế. Theo Luật Thương mại Việt Nam 1977 Mục 10 Điều 163 về dịch vụ giao nhận: “Dịch vụ giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng).” 4 Dịch vụ giao nhận là một loại dịch vụ cung cấp các hoạt động liên quan đến vận chuyển hàng hóa từ một địa điểm đến địa điểm khác, liên quan đến vận chuyển, gom hàng, bốc xếp, lưu kho đóng gói và phân phối hàng hóa. Dịch vụ giao nhận bao gồm nhiều khía cạnh để đảm bảo việc chuyển giao hàng hóa được thực hiện một cách an toàn, nhanh chóng và hiệu quả.
Các công ty giao nhận đóng vai trò như một trung gian, kết nối người gửi hàng và các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển khác nhau như đường bộ, đường biển, đường hàng không, đường sắt hay vận chuyển đa phương thức. Ưu và nhược điểm của vận chuyển hàng không Ưu điểm Nhược điểm Dịch vụ nhanh chóng, đúng giờ, nhờ vào Giá cước vận chuyển hàng hóa bằng tốc độ bay rất nhanh và đặc tính hàng hóa đường hàng không khá cao thường có giá trị cao hoặc dễ hư hỏng Không bị cản trở bởi bề mặt địa hình như Kích thước hàng hóa bị hạn chế để đảm đường bộ hay đường thủy bảo an toàn trong quá trình vận chuyển Phí bảo hiểm vận chuyển và lưu kho thấp Điều kiện thời tiết xấu có thể gây delay hơn do ít rủi ro hơn các phương thức khác hoặc hủy chuyến. Giảm thiểu tổn thất phát sinh do làm Quy định và thủ tục an ninh làm tăng độ hàng, đổ vỡ, hay trộm cắp phức tạp của quá trình vận chuyển (Nguồn: https://advantage.vn/tieng-viet-van-chuyen-hang-khong-va-nhung-uu-nhuoc- diem-cua-no/) Nói cách khác, dịch vụ giao nhận là việc các công ty giao nhận tiếp nhận hàng hóa, tổ chức vận chuyển, làm thủ tục hải quan (nếu vận chuyển quốc tế), thực hiện các dịch vụ bảo hiểm hàng hóa, theo dõi và cập nhật thông tin chuyến hàng, và giao hàng cho người nhận hàng. Phạm vi của các dịch vụ giao nhận là nội dung cơ bản của dịch vụ giao nhận kho vận, trừ khi, bản thân người gửi hàng hoặc người nhận hàng muốn tự mình tham gia vào bất kỳ khâu thủ tục, chứng từ nào đó.
Khái niệm về dịch vụ giao nhận bằng đường hàng không Dịch vụ giao nhận hàng không là một phần quan trọng của hệ thống logistics toàn cầu, đảm bảo vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không từ điểm xuất phát đến điểm đích.