CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH NGOẠI HỐI VÀ RỦI RO TRONG KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng thương mại KDNH là hoạt động được phát triển từ khá lâu trên thế giới, nó ra đời và phát triển cùng với sự phân công lao động và hợp tác quốc tế, tuy nhiên hoạt động KDNH ở Việt nam mới được phát triển mạnh trong 08 năm gần đây. Cùng với xu thế hợp tác và quốc tế hóa kinh tế ngày càng mở rộng sâu sắc, hoạt động KDNH của NHTM sẽ không ngừng phát triển và trở thành một trong những hoạt động không thể thiếu của một ngân hàng hiện đại.1 Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại hối KDNH theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại tệ, đảm bảo ổn định số dư tài khoản KDNH tại nước ngoài và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau [1]. KDNH theo nghĩa hẹp đơn thuần là việc mua bán giữa các đồng tiền .2 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại Hoạt động KDNH đem lại cho ngân hàng một khoản lợi nhuận đáng kể, đặc biệt đối với các ngân hàng có hoạt động KDNH lớn và đa dạng hóa. Hoạt động KDNH giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ tài chính có liên quan tới thanh toán quốc tế.
Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy tín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho khách hàng. Điều đó không chỉ giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động mà còn là một ưu thế tạo nên sức cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường. Hoạt động KDNH không chỉ là một hoạt 5 động đơn thuần mà còn là hoạt động hỗ trợ, bổ sung cho các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng. Hoạt động KDNH của ngân hàng làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng.
Khi thực hiện các nghiệp vụ KDNH, ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại hối thạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp có quan hệ với thanh toán quốc tế với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán. Hoạt động KDNH còn tạo điều kiện hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Ngân hàng sẽ áp dụng các công nghệ tiên tiến để hoạt động trong lĩnh vực này được thực hiện nhanh chóng, kịp thời,và chính xác nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô mạng lưới ngân hàng. Hoạt động KDNH cũng làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ của ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng [2].3 Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh ngoại hối Dựa vào động lực thúc đẩy sự tham gia vào thị trường hay mục đích tham gia mua bán ngoại tệ, người ta có thể chia các chủ thể tham gia hoạt động KDNH như sau: 1.1 Ngân hàng Trung Ương Ở hầu hết các nước, NHTW là người đóng vai trò tổ chức và kiểm soát, điều hành và tham gia mua bán ngoại tệ nhằm ổn định sự hoạt động của TTNH, ổn định giá cả và tỷ giá hối đoái.2 Ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại có ảnh hưởng lớn đến sự vận động của TTNH.
Ngân hàng thương mại tiến hành giao dịch ngoại hối với hai mục 6 đích: thực hiện kinh doanh cho chính mình hay cho khách hàng khi thực hiện vai trò môi giới.3 Các cá nhân hay các nhà kinh doanh (khách hàng mua bán lẻ) Nhóm thành viên này bao gồm các công dân trong và ngoài nước có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ cho đi công tác hay du lịch nước ngoài hoặc khi nhận được các khoản ngoại tệ từ lợi tức đầu tư hay nhận chuyển tiền nước ngoài.4 Các doanh nghiệp Các doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp vừa là chủ thể có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng thương mại quốc tế, vừa là chủ thể cung ngoại tệ khi có các khoản thu về việc xuất khẩu hàng hóa dịch vụ…Các doanh nghiệp này được xem như là chủ thể hình thành nên khối lượng mua bán ngoại hối lớn nhất trên thị trường.5 Các nhà môi giới Người môi giới thực hiện các lệnh mua bán ngoại tệ theo yêu cầu của khách hàng và hưởng phí. Các nhà môi giới nắm vững tỷ giá của nhiều thị trường. Vì vậy các trung tâm tài chính quốc tế thường có một số nhà môi giới ngoại hối giúp các ngân hàng thương mại thực hiện lệnh mua và bán ngoại hối, từ đó cung cấp tỷ giá chào bán và tỷ giá chào mua cho khách hàng một cách nhanh nhất và ưu việt nhất và nhận một khoản phí môi giới.
Có thể nói, các nhà môi giới là trung gian giữa các ngân hàng và là trung gian giữa ngân hàng và khách hàng, góp phần làm cho cung cầu tiếp cận với nhau [13].2 Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối 1.1 Khái niệm rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Rủi ro là một khái niệm chỉ khả năng xảy ra những biến cố mang lại kết quả xấu khi tiến hành một công việc nào đó. Rủi ro gồm hai loại chính là rủi ro mang tính đầu cơ và rủi ro thuần tuý. 7 “Hoạt động KDNH của các ngân hàng thương mại là một hoạt động hết sức nhạy cảm và không nằm ngoài quy luật, nó cũng tiềm ẩn những rủi ro. Rủi ro trong KDNH là những rủi ro làm sai lệch kết quả hoạt động kinh doanh do sự cố biến động về tỷ giá của các ngoại tệ có liên quan”[19].
Đặc biệt trong hệ thống tỷ giá thả nổi hiện nay, tỷ giá hối đoái với tư cách là giá cả của một loại hàng hoá đặc biệt luôn biến động không ngừng do nhiều nhân tố tác động, thì vấn đề rủi ro hối đoái thường xuyên xuất hiện. Các đối tượng thường xuyên chịu rủi ro hối đoái là các Ngân hàng và các công ty tham vào nền tài chính quốc tế. Toàn bộ số tiền có thể chịu rủi ro hối đoái là trạng thái hối đoái mở (open position), mỗi khi có một trạng thái hối đoái mở thì sẽ có một trạng thái rủi ro hối đoái. Nếu như trạng thái hối đoái ở trạng thái mở và tỷ giá hối đoái thay đổi thì sẽ thu thêm hay mất đi một lượng tiền liên quan đến trạng thái hối đoái mở.
Để loại trừ và giảm bớt rủi ro trong KDNH, các ngân hàng phải thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro trong KDNH, Ngân hàng đánh giá đúng mức độ của từng rủi ro trong KDNH và đưa ra các biện pháp quản lỷ rủi ro thích hợp trong KDNH.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh ngoại hối Chúng ta có thể chia rủi ro trong hoạt động KDNH ra làm các loại sau: 1.1 Rủi ro tỷ giá hối đoái “Rủi ro tỷ giá là loại rủi do gây nên bởi sự biến động của tỷ giá dẫn đến thua lỗ trong giao dịch. Nói một cách khác, rủi ro tỷ giá là rủi ro thua lỗ từ trạng thái không cân bằng không bảo hiểm (trạng thái mở) do sự biến động tỷ giá xác định” [4]. Đây là loại rủi ro có ý nghĩa rộng lớn trong nghiệp vụ KDNH. Trường hợp thường xảy ra nhất đối với loại rủi ro này là vịêc duy trì một trạng thái hối đoái mở của một đồng tiền nhất định.
Nếu như trạng thái hối đoái mở là 8 dương (Long position) đối với một loại ngoại tệ hay tài sản Có (Asset) lớn hơn tài sản Nợ (Liabilities) mà ngoại tệ đó bị giảm gía thì chắc chắn sẽ bị rủi ro. Mặt khác nếu đồng tiền đó lên giá, người quản lý ngân quỹ đang dư thừa đồng tiền đó sẽ thu được lợi nhuận từ việc chuyển đổi bằng tỉ giá đó. Kết quả ngược lại nếu trạng thái hối đoái mở là âm hoặc tài sản Nợ lớn hơn tài sản Có đồng tiền đó. Như vậy, rủi ro về tỷ giá sẽ xuất hiện nếu một trạng thái hối đoái mở được tạo ra.
Cung cầu ngoại hối trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Quan hệ cung cầu về ngoại hối bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau: - Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của cán cân thanh toán quốc tế. Nếu cán cân thanh toán dư thừa thì có thể dẫn đến khả năng cung ngoại hối lớn hơn cầu ngoại hối và ngược lại. - Thu nhập thực tế tức mức độ GNP thực tế tăng lên sẽ làm tăng nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ nhập khẩu, do đó làm cho nhu cầu ngoại hối để thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên.
- Những nhu cầu ngoại hối bất thường tăng lên do thiên tai, bão lụt, hạn hán, mất mùa, chiến tranh.cũng như do buôn lậu hàng nhập khẩu gây ra. Bên cạnh quan hệ cung cầu ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái biến động còn có các nhân tố khác như mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước và mức chênh lệch lãi suất giữa các nước có đồng tiền liên quan. Xem xét mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến sự biến động của tỷ giá. Giả sử, trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của hai nước như nhau, quản lý hối đoái tự do.
Một loại hàng ở Mỹ có giá trị 1 USD và ở Nhật là 100 JPY, có nghĩa là ngang giá sức mua đối nội của hai đồng tiền này là USD/JPY = 100. Nếu ở Mỹ có mức lạm phát 9 là 5% và ở Nhật là 10% thì hàng hoá ở Mỹ tăng lên là 1,05 USD và ở Nhật là 110 JPY dó đó ngang sức mua đối nội sẽ là 1,05 USD= 110 JPY Hay là USD/JPY= 104,761 Mức chênh lệch tỷ giá là 4,761 hay gần tương tự như mức chênh lệch lạm phát 5%. Mức chênh lệch về lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng đến sự biến động tỷ giá. Nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn các nước khác hoặc cao hơn LIBID thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống, tỷ giá hối đoái cũng giảm.