Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý phát triển du lịch tại điểm đến du lịch Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội Luan van 7 Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý phát triển du lịch huyện Ba Vì, Hà Nội. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA CƠ BẢN 1. Du lịch và hoạt động du lịch 1.
Khái niệm du lịch HĐDL đã có từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người. Những năm gần đây, du lịch phát triển nhanh ở nhiều nước trên thế giới. Đối với nhiều quốc gia, du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, nguồn thu ngoại tệ lớn. Tuy nhiên, khái niệm "Du lịch" được hiểu rất khác nhau bởi nhiều lẽ như: Xuất phát từ ngữ nghĩa của từ "Du lịch" được dùng ở mỗi nước.
Trong ngôn ngữ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga sử dụng các từ Tourism, Le Toursime, Typuzm. Do đó "du lịch" có nghĩa là: khởi hành, đi lại, chinh phục không gian. Ở Đức sử dụng từ Derfremdenverkehrs có nghĩa là lạ, đi lại và mối quan hệ. Do đó, ở Đức nhìn nhận du lịch là mối quan hệ, vận động đi tới các vùng, địa danh khác lạ của người đi du lịch.
Xuất phát từ các đối tượng và nhiệm vụ khác nhau của các đối tượng đó khi tham gia vào HĐDL. Đối với người đi du lịch thì đó là cuộc hành trình và lưu trú ở một địa danh ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mình. Đối với các chủ cở sở KDDL thì đó là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất, dịch vụ phục vụ người đi du lịch nhằm đạt lợi nhuận tối đa. Đối với Luan van 8 chính quyền địa phương có địa danh du lịch, thì đó là việc tổ chức các điều kiện về CSHT, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động kinh doanh đa dạng giúp đỡ việc lưu trú, việc hành trình của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại địa phương, tăng nguồn thu cho dân cư, cho ngân sách, nâng cao mức sống của dân cư; tổ chức các hoạt động quản lý hành chính nhà nước bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội của vùng v.
Xuất phát từ quan niệm và giác độ quan tâm của những người đưa ra định nghĩa: Quan tâm đến cung du lịch, GS.TS Hunziker cho rằng: "Du lịch là tập hợp cácmối quan hệ, hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời" quan niệm này đã bao quát nội dung du lịch nhưng lại thiếu phân loại cụ thể các mối quan hệ và chưa quan tâm đầy đủ đến các hoạt động tổ chức du lịch và sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng cầu của du khách. Trong Luật du lịch do Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 đưa ra định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.6] Theo định nghĩa trên, có thể rút ra những luận điểm cơ bản về du lịch như sau: - Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên. - Chuyến du lịch ở nơi đến mang tính tạm thời, trong một thời gian ngắn. - Mục đích của chuyến du lịch là thỏa mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng hoặc kết hợp đi du lịch với giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường, nhưng không vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm để nhận thu nhập nơi đến viếng thăm.
- Du lịch là thiết lập các quan hệ giữa khách du lịch với nhà cung ứng các dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương và dân cư ở địa phương. Trên cơ sở nhu cầu trên thị trường, khả năng khai thác và các điều kiện PTDL, người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch. Việc phân loại các loại hình du lịch căn cứ vào những tiêu thức cơ bản như sau: Luan van 9 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ: Du lịch được chia ra làm 3 loại hình là du lịch nội địa, du lịch quốc tế, du lịch quốc gia. Căn cứ vào đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch được chia làm 4 loại hình là du lịch miền biển, du lịch núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê.
Căn cứ vào mục đích của chuyến đi du lịch: Du lịch được chia làm 10 loại hình là du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa, du lịch xã hội, du lịch hoạt động, du lịch giải trí, du lịch thể thao, du lịch chuyên đề, du lịch tôn giáo, du lịch sức khỏe và du lịch dân tộc học. Ngoài ra, có thể phân chia loại hình du lịch theo một số tiêu thức phân loại khác. Khái niệm hoạt động du lịch Trong Luật du lịch do Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 đưa ra định nghĩa: “HĐDL là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân KDDL, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.6] HĐDL có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển, những lợi ích mà HĐDL đem lại rất to lớn, cụ thể như sau: - Thông qua HĐDL, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc. Làm lành mạnh nền văn hóa địa phương, đổi mới truyền thống cổ xưa, phục hồi ngành nghề truyền thống, bảo vệ vùng sinh thái.
Từ đó hiểu biết thêm những yếu tố văn minh của nhân loại nhằm nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân dân… Điều này quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội. - HĐDL làm tăng khả năng lao động, trở thành nhân tố quan trọng để đẩy mạnh sản xuất xã hội và nâng cao hiệu quả của nó - HĐDL góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm, có nghĩa là làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. - Các HĐDL là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước. - HĐDL đóng vai trò như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thêm về đất nước, con người, lịch sử Luan van 10 truyền thống dân tộc, qua đó tranh thủ sự đoàn kết giúp đỡ của các nước.
- Ngoài ra du lịch còn giúp cho việc khai thác, bảo tồn các di sản văn hóa của dân tộc có hiệu quả, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội. Như vậy, HĐDL ở đây được tiếp cận bao gồm các dịch vụ trực tiếp và gián tiếp cho du lịch. Ở một chừng mực nhất định, HĐDL có thể được coi đồng nghĩa với khái niệm ngành du lịch. Điểm đến du lịch 1.
Khái niệm điểm đến du lịch Khi nói đến HĐDL tức là nói đến hoạt động rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu theo những mục đích khác nhau. Địa điểm mà khách du lịch lựa chọn trong chuyến đi có thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia, thậm chí là châu lục. Trong các tài liệu khoa học về du lịch, các địa điểm này được gọi chung là điểm đến du lịch. Trên phương diện địa lý, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ.
Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi của người đó.Với quan niệm này, điểm đến du lịch vẫn chưa định rõ còn mang tính chung chung, nó chỉ xác định vị trí địa lý phụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch, chưa xác định được các yếu tố nào tạo nên điểm đến du lịch. Xem xét trong mối quan hệ kinh tế du lịch, điểm đến du lịch được hiểu là yếu tố cung du lịch. Sở dĩ như vậy là do chức năng của điểm đến chính là th mãn nhu cầu mang tính tổng hợp của khách du lịch. Suy cho cùng, điểm đến du lịch là yếu tố hấp dẫn du khách, thúc đẩy sự thăm viếng và từ đó làm tăng sức sống cho toàn bộ hệ thống du lịch.
Cho nên xét trên nhiều phương diện, điểm đến du lịch là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống du lịch. Phân loại điểm đến du lịch Điểm đến du lịch có ý nghĩa khác nhau trong mỗi chuyến hành trình của du khách. Trong chuyến hành trình của mình, du khách có thể dừng lại ở điểm đến này lâu hơn điểm đến kia. Khi xem xét vị trí của từng điểm đến trong chuyến đi của khách, người ta chia điểm đến du lịch thành 2 loại: - Điểm đến cuối cùng Điểm đến cuối cùng thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của Luan van 11 du khách hoặc là địa điểm mà khách dự định sử dụng phần lớn thời gian.
Trong chuyến hành trình của khách du lịch, điểm đến cuối cùng có thể được xem là điểm đến quan trọng và hấp dẫn nhất đối với họ. Thường những điểm đến này có sự kết hợp của các yếu tố một cách hợp lý, đa dạng thỏa mãn tốt nhu cầu của khách. Khách du lịch dùng phần lớn thời gian ở đây có nghĩa là họ sẽ sử dụng dịch vụ nhiều hơn và chi tiêu nhiều hơn đem lại lợi ích đáng kể cho điểm đến du lịch. - Điểm đến trung gian Điểm đến trung gian hoặc điểm ghé thăm là địa điểm khách dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc thăm viếng một điểm hấp dẫn du lịch.
Các điểm đến trung gian này cũng có vai trò trong việc giúp khách có chỗ dừng chân hợp lý trong những chuyến hành trình dài. Khách du lịch cũng có thể tham quan du lịch tại các điểm đến này nhưng thường ít sử dụng dịch hơn. Phát triển du lịch 1.