Chương I, Quy chế quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ chính thức, Nghị định số 131/2006/NĐ – CP, Việt Nam 8 Như vậy cả 4 khái niệm về ODA nói trên đều thống nhất và xoay quanh 4 vấn đề cơ bản sau: (i) mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính hỗ trợ của quốc gia này với quốc gia khác nhằm thúc đẩy (ii) phát triển kinh tế xã hội thông qua con đường (iii) chính thức giữa cấp nhà nước với nhà nước, giữa nhà nước hoặc Chính phủ với các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia và (iv) mối quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng của một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kết tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nước này cam kết dành cho các nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã định với giá trị ít nhất là 25% so với tổng giá trị viện trợ. Từ nhận xét trên, hướng nghiên cứu của đề tài luận văn được triển khai theo định nghĩa sau: Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi hoặc hỗn hợp các khoản trên của các cơ quan tài chính hoặc các tổ chức quốc tế, các nhà nước và các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ cho sự phát triển và thịnh vượng của các nước đang và chậm phát triển (không tính đến các khoản viện trợ cho mục đích quân sự thuần túy). Trong đó: Các điều kiện ưu đãi, thể hiện: - Thứ nhất, có thành tố cho không chiếm ít nhất 25%. - Thứ hai, lãi suất thấp.
- Thứ ba, thời gian ân hạn (không phải trả gốc) dài từ 3 đến 10 năm. - Thứ tư, thời gian trả nợ dài, thường từ 20 năm đến 40 năm. Các tổ chức kinh tế, tài chính cung cấp vốn ODA gồm: - Các tổ chức ngân hàng quốc tế: Ngân hàng thế giới (WB); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB); Ngân hàng phát triển Châu Phi (FDB). 9 - Ủy ban Hỗ trợ phát triển chính thức DAC (Development Assistance Committee) thuộc tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển OECD (Organization for Economic Coopertion and Development).
- Các nhà nước Chính phủ cung cấp vốn ODA gồm: + Các nước thành viên nhóm G8 (Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Ý, Cannada, Đức, và Nga). + Các nước thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa OPEC (Organization of petrolium Exporting Countries). + Một số nước công nghiệp phát triển: ở Bắc Âu. Tây ÂU, Bắc Mỹ và các nước công nghiệp mới NICs.
- Các nước nhận vốn ODA: Chủ yếu là các nước thuộc yếu tố thế giới thứ ba gồm các nước chậm phát triển và các nước đang phát triển. Đặc điểm nguồn vốn ODA + Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển. Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Thể hiện: - Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD.
- Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc). Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japanese Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. - Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới 25% tổng số vốn vay. Ví dụ OECD cho không 20-25% tổng vốn ODA.
Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. - Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất. Lãi suất giao động từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên 7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên). Ví 10 dụ lãi suất của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá.
Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm. Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. + Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định.
Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp.
Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ. Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. + ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ.
Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ. Các loại hình ODA ODA thường được phân loại theo các tiêu chí chủ yếu sau đây: 11 1. Căn cứ vào hình thức cung cấp + ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ, đây là khoản viện trợ mà bên nhận viện trợ không gặp phải món nợ pháp lý nào. + ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): Là khoản vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn, thời gian trả nợ bảo đảm “yếu tố không hoàn lại” (còn gọi là thành tố hỗ trợ) đạt ít nhất là 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% các khoản vay không ràng buộc.
Bên nhận viện trợ phải chịu món mang tính pháp lý và phải hoàn trả vốn vay. + ODA hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% các khoản vay không ràng buộc. Căn cứ theo phương thức cơ bản cung cấp ODA + ODA hỗ trợ dự án: Là phương thức tài trợ căn cứ vào dự án mà bên nhận tài trợ thực hiện, nếu dự án đáp ứng được yêu cầu của nhà tài trợ sẽ được nhận viện trợ. Hỗ trợ theo dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, các dự án phải được chuẩn bị hết sức chi tiết trước khi xin tài trợ và thực hiện.
+ ODA hỗ trợ ngành: Là phương thức cung cấp ODA cho một ngành nhất định, có thể bao gồm một hoặc nhiều dự án. + ODA hỗ trợ chương trình: Là phương thức viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với một thời hạn nhất định để thực hiện chương trình. Chương trình là một tập hợp các hoạt động, các dự án có liên quan đến nhau và có thể liên quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều vùng lãnh thổ, nhiều chủ thể khác nhau nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai đoạn, nguồn lực để thực hiện có thể được huy động từ nhiều nguồn ở những thì điểm khác nhau, với nhiều phương thức khác nhau. + ODA phi dự án: Bao gồm các loại hình sau: 12 - Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hóa, hỗ trợ nhập khẩu.
Ngoại tệ hoặc hàng hóa được chuyển qua hình thức này có thể được sử dụng để hỗ trợ ngân sách. - Hỗ trợ ngân sách: Là phương thức cung cấp ODA theo đó các khoản hỗ trợ ODA không gắn với dự án cụ thể nào mà được chuyển trực tiếp vào ngân sách nhà nước, được quản lý và sử dụng theo các quy định và thủ tục ngân sách Lào. Căn cứ vào nguồn cung cấp (nhà tài trợ) + ODA song phương: Là viện trợ phát tiển chính thức của chính phủ nước này dành cho chính phủ nước kia. + ODA đa phương: Các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ viện trợ phát triển chính thức của một số tổ chức tài chính quốc tế (IMF,WB.) hay khu vực (ADB, EU.) hoặc của một số chính phủ nước nào đó nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương.
Căn cứ theo mục đích + Cứu trợ và viện trợ khẩn cấp: Là hoạt động cung cấp nguồn lực cứu trợ khẩn cấp, giảm nhẹ tác động và nâng cao mức sống của người dân bị ảnh hưởng của thiên tai hay thảm họa mà con người gây ra. + Viện trợ lương thực: Là hoạt động cung cấp lương thực để tiêu dùng theo các chương trình quốc gia và quốc tế với mục tiêu phát triển, bao gồm viện trợ không hoàn lại, cho vay để mua lương thực, trả tiền mặt cho nhà cung cấp lương thực, dự án hỗ trợ cung cấp lương thực và hỗ trợ lương thực cho thị trường buôn bán.