CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1.1 NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ 1. Khái niệm về Thuế Để làm nền tảng cho việc phân tích thực trạng ở chương tiếp theo, việc tổng quan lại những nội dung làm cơ sở lý luận liên quan đến thuế, nợ thuế, công tác quản lý nợ thuế là cần thiết. Bản chất của thuế là vấn đề hết sức phức tạp, có nhiều quan điểm khác nhau, chính vì vậy mà không có định nghĩa cụ thể về thuế trong các văn bản luật của hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, xét trên giác độ nghiên cứu và học thuật thì khái niệm về thuế cũng được định nghĩa trong các trích dẫn sau: Theo giáo trình thuế, Học viện tài chính thì: "Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng." Theo giáo trình thuế thực hành của tác giả Phan Hiển Minh thì "Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật.
Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước". Theo tài liệu " Khái niệm và đặc điểm của thuế" của Thư viện Học liệu mở Việt Nam (VOER): " Thuế là biện pháp đặc biệt theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước". Theo giáo trình thuế của Đại học Nha Trang năm 2014: "Thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo luật của mỗi tổ chức, cá nhân đối với nhà nước, không hoàn trả trực tiếp ngang giá, nhưng được dùng để trang trải các chi phí vì lợi ích chung của toàn dân như: quốc phòng, an ninh, giao thông, giáo dục, y tế… Thuế phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước". Những khái niệm về thuế nêu trên đều đưa ra Thuế không chỉ là nguồn thu chính mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước.
Thuế gắn liền với Luan van 7 sự ra đời và phát triển của một nhà nước. Nhà nước sử dụng nguồn thu có tính chất bắt buộc đối với các cá nhân, tổ chức…là thành viên của xã hội để thực hiện các mục đích an ninh quốc phòng, phát triển và điều tiết về kinh tế, về an sinh xã hội của một quốc gia. Từ những nhận định trên, ta có thể đưa ra một khái niệm về thuế mang tính tổng quát: "Thuế là một hình thức động viên bắt buộc của Nhà nước nhằm tập trung một bộ phận nguồn lực của cải xã hội vào ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước thích ứng với từng giai đoạn phát triển của đời sống xã hội". Đặc điểm của thuế 1.1 Thuế là khoản trích nộp bằng tiền Trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường.
Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác. Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội, tại Điều 43 chương V cũng quy định cụ thể về đồng tiền nộp thuế: “ Đồng tiền nộp thuế là Đồng Việt Nam, trừ trường hợp nộp thuế bằng ngoại tệ theo quy định của Chính phủ”.2 Luôn gắn với quyền lực nhà nước Về đặc điểm này, được quy định trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế, trong đó tại Điều 47 qui định: ” Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định”. Thuế là khoản đóng góp không mang tính tự nguyện mà là bắt buộc đối với các thể nhân, pháp nhân trong diện mà Nhà nước quy định phải có nghĩa vụ thuế. Do tầm quan trọng của mình nên công tác quản lý thuế luôn được thể hiện dưới dạng các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như luật, pháp lệnh do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua.
Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính khác cho ngân sách nhà nước (1). 1 Trích trong chuyên đề 6 “ Quản lý tài chính công” - tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính của Bội Nội vụ năm 2015 Luan van 8 1.3 Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng đáp ứng chi tiêu công Khi người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế theo Luật định thì không có nghĩa là ngay lập tức được hưởng trực tiếp lợi ích trên số tiền đã đóng góp vào ngân sách nhà nước, nói cách khác việc nộp thuế không gắn với lợi ích cụ thể của người nộp thuế mà họ hưởng lợi ích gián tiếp thông qua việc sử dụng các hàng hóa và dịch vụ công do nhà nước cung cấp. Giá trị các hàng hóa, dịch vụ mà họ được hưởng không tương ứng với số thuế mà họ phải nộp. Đây cũng chính là đặc điểm của thuế về tính không hoàn trả trực tiếp.
Chi tiêu công là những khoản chi cần thiết phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia, chi tiêu công gắn liền với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội được sử dụng từ các nguồn thu ngân sách nhà nước hàng năm. Vai trò của thuế 1.1 Nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước Khi nói thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, có nghĩa là trong cơ cấu các khoản thu ngân sách nhà nước có tính chất bắt buộc như: Thuế, phí, lệ phí thì thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất (thường từ 80% đến trên 90% tổng thu ngân sách nhà nước). Nền kinh tế của quốc gia càng phát triển thì tỷ trọng thuế trong thu ngân sách càng cao.2 Công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Từ đặc điểm của thuế không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng đáp ứng chi tiêu công đã góp phần tái phân phối thu nhập xã hội giữa các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội.
Số tiền thuế thu được hàng năm trong tổng thu ngân sách được nhà nước sử dụng một tỷ lệ nhất định trong chi tiêu công mang tính chất chuyển giao thu nhập đó đến những người có thu nhập thấp qua các chương trình phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ hàng hóa công cộng.3 Công cụ để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh. Thông qua công tác quản lý thuế đối với người nộp thuế là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân từ khi đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế và xử lý các yêu cầu Luan van 9 về thuế như hoàn thuế, miễn giảm thuế, xóa nợ thuế.đã thực hiện vai trò chức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước, phát hiện các trường hợp gian lận, trốn tránh thuế, cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế được bình đẳng trong các hoạt động kinh doanh trên thị trường.4 Công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước chủ động can thiệp đến cung - cầu của nền kinh tế. Thông qua các chính sách thuế để thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các quy định khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu đối với một số hàng hóa.
Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển, trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý và có hiệu qủa các nguồn lực của đất nước trong việc điều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế, cũng là công cụ để kiểm soát giá cả và kiềm chế lạm phát. Thông qua pháp luật thuế, Nhà nước có tác động tích cực trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp từ tổ chức kinh tế trong khu vực hay quốc tế. Các loại thuế hiện hành tại Việt Nam Hệ thống chính sách thuế trong giai đoạn 2015 - 2020 bao gồm các sắc thuế, phí và lệ phí chủ yếu sau đây: (1) Thuế giá trị gia tăng; (2) Thuế tiêu thụ đặc biệt; (3) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; (4) Thuế thu nhập doanh nghiệp; (5) Thuế thu nhập cá nhân; (6) Thuế tài nguyên; (7) Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Luan van 10 (8) Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; (9) Thuế bảo vệmôi trường; (10) Các khoản phí và lệ phí. Chuyển thuế môn bài thành một khoản thu lệ phí quản lý hoạt động kinh doanh hàng năm; hoàn thiện các chế độ, chính sách thu ngân sách nhà nước từ tài nguyên, khoáng sản quốc gia như: thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, thu đấu giá quyền khai thác khoáng sản và thu từ dầu khí 1.2 NỢ THUẾ VÀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ 1.1 Nợ thuế Tiền thuế nợ là các khoản tiền thuế; phí, lệ phí; các khoản thu từ đất; thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản và các khoản thu khác thuộc NSNN do cơ quan thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật (gọi chung là tiền thuế) nhưng đã hết thời hạn quy định mà NNT chưa nộp vào NSNN.
Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với khoản tiền thuế nợ (khoản nợ) là ngày tiếp theo của ngày hết hạn nộp thuế, còn thời điểm kết thúc tính nợ đối với khoản tiền thuế nợ là ngày khoản nợ được nộp vào NSNN. Số ngày nợ thuế của khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày (bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo quy định của pháp luật) kể từ thời điểm tính nợ đến thời điểm kết thúc thời điểm tính nợ. Người nợ thuế là NNT còn nợ các khoản tiền thuế nợ nhưng hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN.