đặt vấn đề này giúp các nhà hoạch định chính sách hình dung rõ hơn về khuôn khổ, tầm nhìn cũng như chức năng và nhiệm vụ của QLNC. Việc nhấn mạnh ràng buộc tiếp cận thận trọng về quản lý rủi ro, cũng như yêu cầu về tầm nhìn trung và dài hạn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó đặt ra giới hạn cho việc chạy theo mục tiêu giảm thiểu chi phí bất chấp rủi ro trong tương lai, điều mà hầu hết các chính phủ với tư duy nhiệm kỳ có 11 thiên hướng đi theo. Tuy nhiên, với tính chất là một tài liệu mang tính hướng dẫn (guidelines), khái niệm trên về QLNC vẫn để ngỏ nhiều vấn đề thuộc về nội hàm mà các nước, tùy điều kiện cụ thể của mình, cần diễn giải cụ thể. Chẳng hạn, “nợ của CP” nên được hiểu theo nghĩa hẹp là nợ do CP phát hành hay tất cả các nghĩa vụ nợ mà CP, với tư cách là người bảo lãnh cuối cùng, chịu trách nhiệm thanh toán? Chi phí nợ công cần hiểu là chi phí tài chính (tức chi phí dàn xếp vốn và trả lãi tiền vay) hay chi phí kinh tế (tức bao gồm thêm cả các tổn thất tiềm năng phát sinh từ nguy cơ phá sản nợ công)? Rủi ro trong quản lý nợ công bao gồm những rủi ro nào? Cần lượng hóa như thế nào cái gọi là “mức độ thận trọng về quản lý rủi ro”? v.
Các vấn đề này sẽ được đề cập rõ hơn ở phần sau của luận án. The World Bank, “Managing public debt: From diagnostics to reform implementation” (Quản lý nợ công: Từ chẩn đoán đến thực hiện cải cách) đã thiết kế chương trình cải cách và các chương trình xây dựng năng lực trong mười hai quốc gia. Kinh nghiệm từ các nước này (Bulgari, Colombia, Indonexia, Kenya, Pakistan,…) đã chỉ ra các nội dung cần lưu ý trong quản lý nợ công là: Phối hợp hiệu quả chính sách quản lý nợ công với chính sách tài khóa và tiền tệ, xác định rõ mục tiêu quản lý nợ, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, năng lực thể chế và năng lực nhân viên, thực hiện chiến lược nợ hiệu quả trên nền tảng một thị trường nợ chính phủ phát triển có độ sâu thanh khoản. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã nhấn mạnh đến một thách thức lớn nhất là phải có các chính sách, chế đãi ngộ nhằm thu hút, giữ chân các nhân viên tài năng và giàu kinh nghiệm, hay là những khó khăn gặp phải khi tổng hợp dữ liệu từ các hệ thống riêng biệt [112].
The World Bank, “Developing the domestic government debt market:From diagnostics to reform implementation” (Phát triển thị trường nợ chính phủ trong nước: Từ chẩn đoán để thực hiện cải cách), nhấn mạnh vai trò then chốt của thị trường tiền tệ đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán chính phủ. Trình tự để cơ quan có thẩm quyền thực hiện vay trong thị trường nội địa, bao gồm việc lựa chọn các công cụ, kỹ thuật phát hành và các mối quan hệ với các tổ chức trung gian tài chính. Nghiên cứu đặc biệt lưu ý về sự phức tạp của chương trình cải cách, sự tương tác giữa các thị trường nợ và mức độ phụ thuộc trong phát triển thị trường nợ [109]. 12 Tại Việt Nam nợ công và QLNC đang ngày càng trở thành một trong những vấn đề quan trọng và rất phức tạp.
Do vậy, trong thời gian qua đã có không ít công trình trong nước nghiên cứu về nợ công và QLNC, điển hình như: Về nội dung, bản chất nợ công, tác động của nợ công đến các biến số kinh tế vĩ mô (KTVM) và những ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công thế giới đến nền kinh tế Việt Nam, Nguyễn Đức Độ, Nguyễn Thị Minh Tâm và các cộng sự đã đề cập khá cụ thể trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của mình. Tuy nhiên, đề tài chưa phân tích cụ thể tác động của khủng hoảng nợ công của các nước phát triển đến nợ công Việt Nam, trong bối cảnh mới [19]. Phạm Thế Anh và cộng sự trong cuốn sách đã cố gắng đánh giá toàn diện thực trạng và dự báo nợ công của Việt Nam nhằm nhận diện các rủi ro và thách thức trong việc giám sát và quản lý nợ công. Nghiên cứu bao gồm các nội dung cụ thể như: Xem xét kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; phân tích thực trạng và những tác động tiêu cực của thâm hụt tài khóa và nợ công tăng nhanh đối với các biến số vĩ mô; đánh giá rủi ro và tính bền vững của nợ công; dự báo nợ công của Việt Nam theo những kịch bản kinh tế khác nhau và đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao tính minh bạch, khả năng giám sát, QLNC theo hướng bền vững ở Việt Nam [1].
Đề cập đến mối quan hệ mật thiết giữa việc đi vay và sử dụng vốn vay tác giả Huỳnh Bửu Sơn cho rằng, vay nhiều mà hiệu quả sử dụng cao thì rất đáng hoan nghênh và ngược lại nó sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy cho nền kinh tế quốc gia, cả trong ngắn hạn và dài hạn [38]. Bài thảo luận chính sách, CS-10 các tác giả của phòng nghiên cứu VEPR (Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách - Viet Nam Institute for Economic and Policy Research) đã phân tích những điểm khác biệt trong thống kê nợ công của Việt Nam so với thông lệ quốc tế về các chủ thể nợ cũng như các công cụ nợ. Với cách tiếp cận này, Việt Nam đã bỏ qua rủi ro phát sinh từ các đơn vị sử dụng vốn ngân sách nằm ngoài CP và các quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH). Bên cạnh đó, bài viết đã đánh giá về những đặc điểm bất lợi của nợ công Việt Nam hiện nay, như: Nợ công chiếm tỷ lệ cao và tăng nhanh; Nợ công chủ yếu là nợ CP; Áp lực trả nợ lớn do lãi suất cao, kỳ hạn trái phiếu nội địa ngắn;.
Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị 13 về sự cần thiết phải đồng bộ hóa chuẩn mực thống kê về nợ công Việt Nam để giúp kiểm soát tốt hơn những rủi ro nợ công trong tương lai; Mức trần nợ công cần xem xét dưới giác độ cứng để cải thiện hiệu quả chính sách tài khóa và là ngưỡng an toàn để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng nợ công có thể xảy ra trong tương lai [3]. Nguyễn Xuân Thành và Đỗ Thiên Anh Tuấn, cho rằng bội chi ngân sách cao và kéo dài chính là nguyên quan trọng dẫn đến tình trạng gia tăng nhanh chóng của nợ CP. Trong khi đó, mặc dù nợ của chính quyền địa phương (CQĐP) rất thấp và không có dấu hiệu cho thấy nguồn phát sinh nợ công cấp địa phương bởi theo quy định địa phương (Luật NSNN 2002) không có bội chi ngân sách. Tuy nhiên thực tế chính ngân sách trung ương đã gánh phần bội chi ngân sách thay cho địa phương nên vô hình trung điều này đã che đậy bản chất của thâm hụt ngân sách và làm mờ sự yếu kém tài khóa ở cấp địa phương.
Các khoản nợ do CP bảo lãnh cũng có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây trong khi chi phí vay nợ bảo lãnh luôn cao hơn chi phí vay nợ của CP. Tình trạng kém hiệu quả trong các dự án đầu tư công cũng như vấn đề đội vốn đầu tư trong các dự án cơ sở hạ tầng do các DNNN làm chủ đang đẩy gánh nặng tài trợ lên ngân sách và góp phần đáng kể vào mức độ gia tăng nợ công trong những năm gần đây. Bài viết cũng dự báo xu hướng nợ công Việt Nam đến năm 2030 dựa trên một số kịch bản giả định. Tất cả các kịch bản dự báo cho thấy nợ công sẽ tiếp tục xu hướng tăng lên trong tương lai với mức độ tùy thuộc vào triển vọng tăng trưởng kinh tế và nỗ lực cắt giảm bội chi ngân sách của CP [42].
Luận án Đỗ Đình Thu đã phân tích những vấn đề cơ bản về quản lý vay, trả nợ trong và ngoài nước của CP; Rút ra 10 bài học cho Việt Nam từ kinh nghiệm quản lý nợ CP của các nước (Thái Lan, Indonexia, Malaysia,…); nêu và đánh giá thực trạng quản lý vay, trả nợ CP ở Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2006, trên cơ sở đó tác giả đề xuất các nhóm giải pháp chung, các nhóm giải pháp nợ vay trong nước, nợ vay ngoài nước của CP; nhóm giải pháp tăng cường nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ CP. Tuy nhiên, do bối cảnh của đất nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi mang tính bước ngoặt, nên những vấn đề mà luận án đã giải quyết không còn sát với thực tế. Đặc biệt, từ khi Việt Nam có Luật QLNC và sự hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay [43]. 14 Nguyễn Kim Thanh, “Vai trò của NHNN trong quản lý nợ công”, Tác giả đã nêu lên hai lý do chính mà các CP phải QLNC được rút ra từ thực tế, đó là: (i) Danh mục nợ của CP ngày càng lớn và phức tạp, nó có thể gây ra rủi ro đối với sự bất ổn vĩ mô, như mất khả năng thanh toán quốc gia đối với phần còn lại của thế giới và tình trạng ổn định của tài chính quốc gia; (ii) Việc QLNC hợp lý có thể làm giảm thiểu chi phí và rủi ro.
Trên cơ sở Luật QLNC 2009, tác giả nêu lên bốn vai trò của NHNN trong thực hiện nội dung QLNC là: (1) Góp phần giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của thâm hụt ngân sách đến các lĩnh vực khác của nền kinh tế thông qua việc điều tiết dòng tiền giữa các lĩnh vực của nền kinh tế một cách hợp lý bằng các công cụ của chính sách tiền tệ; (2) Hỗ trợ tích cực việc huy động vốn cho bù đắp thâm hụt ngân sách, thông qua việc góp phần thúc đẩy sự phát triển thị trường trái phiếu CP; (3) Có vai trò quan trọng trong việc tham gia chiến lược quản lý nợ nước ngoài của CP; (4) Giảm thiểu rủi ro nợ CP [41]. Luận án Lê Thị Diệu Huyền, đi sâu nghiên cứu nội dung của cơ chế QLNC nói chung. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế QLNC và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế QLNC Việt Nam. Tác giả đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố KTVM đến nợ công.
Tuy nhiên, do quãng thời gian hình thành số liệu ngắn, mức độ chính xác và đồng bộ của các thông tin, nên kết luận trong mô hình còn có những hạn chế nhất định [31].