phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 12 tiết: Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 7 Chương : Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chương : Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc Trung ương Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội Chương 4: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước của thành phố Hà Nội. Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƢỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN - Về đầu tư công và quản lý đầu tư công Chi NSNN cho đầu tư XDCB là một khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển của NSNN và là một bộ phận quan trọng của đầu tư công. Việc sử dụng hiệu quả khoản đầu tư này có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vì thế, có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về QLNN đối với đầu tư công và đầu tư XDCB, đặc biệt là đầu tư xây dựng KCHT giao thông từ nguồn vốn NSNN. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu về đầu tư công và quản lý đầu tư công trong số đó có liên quan đến đề tài luận án. Công trình của Nguyễn Xuân Thành, “Quản lý đầu tư công như thế nào cho hiệu quả” [66], tác giả đã phân tích thực trạng của đầu tư công hiện nay ở Việt Nam, đưa ra các bằng chứng để chứng minh sự thất thoát, lãng phí trong việc xây dựng các công trình công cộng, sự kém hiệu quả trong công tác quản lý đầu tư công ở nước ta. Tác giả đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công, trong đó nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc phối hợp, bố trí vốn đầu tư, việc quy hoạch đầu tư hợp lý, xây dựng quy trình đầu tư công phù hợp.
Bài viết của Nguyễn Phương Thảo: “Kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới” [69] đã khẳng định vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tác giả đã nghiên cứu kinh nghiệm quản lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới trong tất cả các khâu của quy trình đầu tư, từ khâu quy hoạch đến giám sát đầu tư. Tác giả cho rằng việc xây dựng khung khổ pháp luật, chính sách quản lý vốn đầu tư, đặc biệt là Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 9 vốn đầu tư từ NSNN một cách đầy đủ, có hệ thống và có tầm bao quát sẽ là căn cứ để nâng cao hiệu quả QLNN về vốn đầu tư công. QLNN chỉ có hiệu quả khi và chỉ khi xây dựng được quy trình đầu tư công chặt chẽ.
Công trình nghiên cứu của Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Quang Thái [1] và một số người khác đã khẳng định vai trò của đầu tư công ở Việt Nam trong những năm qua. Nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định rằng đầu tư công đã làm thay đổi đáng kể đối với kết cấu hạ tầng kỹ thuật của đất nước; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tốc độ tăng trưởng GDP trong 10 năm qua trên 7,2%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt trên 1. Đặc biệt đầu tư công cho các chương trình mục tiêu quốc gia tại các vùng mà nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, đời sống của người dân thực sự khó khăn sẽ giúp cho các vùng này phát triển, tạo ra sự công bằng trong phát triển.
Các công trình nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả đầu tư công chưa cao. Các công trình của Lê Xuân Bá, Nguyễn Đình Cung và của Nguyễn Trọng Thản [4, 29, 65] đã chỉ ra những bất cập căn bản làm giảm hiệu quả đầu tư công, đó là đầu tư với quy hoạch chất lượng kém, thiếu kế hoạch chi tiết, thực hiện đầu tư cho các dự án không cấp thiết, quy mô đầu tư dàn trải, có chạy đua giữa các địa phương giành giật các nguồn vốn đầu tư công. Nguồn vốn đầu tư công thì ít nhưng lại được phân bổ vào quá nhiều dự án, do đó các dự án thường bị thiếu vốn dẫn đến phải điều chỉnh tiến độ, làm chi phí cũng phải điều chỉnh gia tăng, cuối cùng các dự án này chậm đưa vào khai thác sử dụng, sử dụng hiệu quả không cao. Đầu tư công và quản lý đầu tư công hiệu quả thấp không chỉ hiệu quả đầu tư công bị hạn chế mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực như có thể làm gia tăng sức ép của lạm phát trong nước, các cân đối vĩ mô khó thực hiện, cũng như làm gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, giữa các bộ phận dân cư trong xã hội; dẫn đến nguy cơ xuất hiện hiện tượng tiêu cực tham nhũng, làm méo mó cơ chế thị trường, làm suy giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 10 Luận án của Hoàng Cao Liêm, “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Nam” [48]. Luận án đã làm rõ được khái niệm quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN cấp tỉnh. Xác định nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ bao gồm: xây dựng quy hoạch và kế hoạch đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; Ban hành và tổ chức thực hiện các quy định về quản lý đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; Tổ chức bộ máy quản lý về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN; thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN. Luận án cũng chỉ ra được những hạn chế cùng nguyên nhân của hạn chế trong quản lý về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Hà Nam đó là do chất lượng quy hoạch, kế hoạch; đội ngũ cán bộ quản lý; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; môi trường pháp lý và quy định về tổ chức quản lý ĐTXD hiện nay còn bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn.
Luận án cũng chỉ ra 4 phương hướng và 6 giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng KCHT giao thông đường bộ từ NSNN tại tỉnh Hà Nam đến 2025. Một số nhà nghiên cứu đã sử dụng khung đánh giá quản lý đầu tư công của Ngân hàng Thế giới để phân tích những bất cập và đề xuất các giải pháp khắc phục. Những hạn chế chính trong quản lý đầu tư công của Việt Nam được chỉ ra là: khuôn khổ thể chế không thuận lợi cho lập kế hoạch và theo dõi đánh giá đầu tư công dựa trên kết quả; năng lực thể chế không thỏa đáng, trách nhiệm giải trình chưa rõ ràng và thiếu động lực trong quản lý chương trinh, dự án đầu tư công; thiếu kế hoạch hành động trung hạn và khung kết quả trong các bản kế hoạch; thẩm định và lựa chọn dự án đầu tư công còn yếu; và đánh giá đầu tư công thiếu tính khách quan và chưa làm rõ được tiêu chí, mục đích đánh giá. Từ đó các nhà nghiên cứu đưa ra bốn kiến Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 11 nghị để tăng cường hiệu lực hệ thống quản lý đầu tư công: áp dụng khung kết quả trong lập kế hoạch và chương trình, dự án đầu tư công; sử dụng hệ thống theo dõi đánh giá dựa trên kết quả thay thế cách theo dõi đánh giá truyền thống; áp dụng tiêu chí và chỉ số theo dõi đánh giá được quốc tế công nhận; và xây dựng, sử dụng cơ sở dữ liệu và hệ thống báo cáo thống nhất để theo dõi đầu tư công.
- Về quản lý nhà nước đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN Có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý đầu tư XDCB, trong đó có quản lý đầu tư xây dựng KCHT giao thông từ NSNN như: Luận án của Trần Văn Hồng, “Đổi mới cơ chế sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước” [41]. Luận án đã nghiên cứu cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB của Nhà nước trước khi Luật NSNN năm 2002 ra đời và có hiệu lực. Luận án đã chỉ ra lỗ hổng của cơ chế quản lý cũ từ đó chỉ ra tính cấp bách cần phải đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB nhằm xóa bỏ bao cấp, nâng cao trách nhiệm đối với chủ đầu tư, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan Nhà nước, đảm bảo hiệu quả đầu tư, tăng trách nhiệm giải trình trong quản lý NSNN. Luận án của Bùi Minh Huấn, “Phương hướng, biện pháp hoàn thiện QLNN đối với xây dựng giao thông” [43].
Luận án đã phân tích các mô hình quản lý xây dựng trong ngành giao thông vận tải từ trước và sau năm 1990; làm rõ thực chất và nội dung quản lý đối với xây dựng giao thông. Điểm nổi bật của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN nói chung và QLNN trong lĩnh vực xây dựng giao thông nói chung, chỉ ra các công cụ QLNN và sự phân chia chức năng trong bộ máy quản lý để làm căn cứ đánh giá thực trạng QLNN đối với xây dựng giao thông ở nước ta. Luận án của Tạ Văn Khoái, “QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN ở Việt Nam” [46] đã nghiên cứu QLNN đối với dự án ĐTXD từ NSNN trên các giai đoạn của chu trình dự án. QLNN đối với dự án ĐTXD từ NSNN Luận án tiến sĩ Quản lý Kinh tế 12 được tác giả luận giải qua năm nội dung: hoạch định, xây dựng khung pháp luật, ban hành và thực hiện cơ chế, tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát.