Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ 1. Hoạt động y tế và sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước về y tế 1. Khái niệm y tế Y tế là khái niệm được sử dụng một cách phổ biến trong cuộc sống thường ngày cũng như trong các nghiên cứu chuyên sâu. Tuy nhiên, khái niệm này chưa được giải thích một cách cụ thể và chính thống trong bất kì văn bản pháp luật nào của nước ta.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2005) có đưa ra định nghĩa về khái niệm y tế như sau: “Y tế là lĩnh vực hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân bao gồm các hoạt động vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật đến việc khám và điều trị bệnh” [48]. Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về văn hóa – giáo dục – y tế có định nghĩa về khái niệm y tế (theo nghĩa hẹp) như sau: “Y tế là những hoạt động phòng chống và điều trị bệnh tật cho nhân dân” [28, tr. Hoạt động phòng chống bệnh tật bao gồm các công tác như: Công tác vệ sinh môi trường sống và làm việc liên quan đến gây bệnh (bệnh do nhiễm khuẩn, lây lan và bệnh nghề nghiệp), tiêm chủng, giáo dục y học cho cộng đồng, thể dục dưỡng sinh [28, tr. Bên cạnh đó, hoạt động điều trị bệnh tật cho nhân dân được coi là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực y tế.
Nói tóm lại, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ nghiên cứu về quản lý công, “y tế có thể được hiểu là một lĩnh vực thuộc lĩnh vực y khoa, chỉ sự chăm sóc về sức khỏe, chữa bệnh và ngừa bệnh; những người làm trong lĩnh vực này không chỉ bao gồm những chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt động về y khoa như: y tá, bác sĩ, chuyên viên điều trị, chuẩn đoán và chăm sóc 1 bệnh nhân; mà còn bao gồm những chủ thể có chức năng, nhiệm vụ thực hiện hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến lĩnh vực y khoa”. Hoạt động y tế Khi nói đến y tế, chúng ta thường để cập đến y học vì đó hai mặt của hoạt động chăm sóc sức khỏe. Y học là ngành khoa học nghiên cứu về phòng bệnh, chữa bệnh. Kết quả nghiên cứu của y học cần phải được ứng dụng vào việc phòng bệnh, chữa bệnh cho con người thông qua các hoạt động y tế.
Do đó, “Y tế là các hoạt động cụ thể trực tiếp ứng dụng khoa học y học vào việc phòng bệnh, khám chữa bệnh để bảo vệ sức khoẻ cho con người” [34, tr. lĩnh vực y tế cũng có thể được hiểu là các hoạt động y tế. Các hoạt động y tế mà Nhà nước tập trung quản lý bao gồm: Y tế dự phòng và môi trường an toàn thực phẩm; khám chữa bệnh, kể cả khám chữa bệnh bằng y dược học cổ truyền: thuốc và mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người; trang thiết bị y tế. Các hoạt động quản lý nhà nước khác như đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế.
Hiện nay, nhà nước đặt ra các quy định pháp luật để quản lý các hoạt động y tế sau: Thứ nhất, về y tế dự phòng và môi trường: phòng, chống dịch bệnh, kiểm dịch y tế, HIV/AIDS; hóa chất, chế phẩm diệt khuẩn, diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế; dinh dưỡng cộng đồng; vệ sinh an toàn nước uống, nước sinh hoạt; tai nạn thương tích, sức khỏe trường học, sức khỏe lao động và bệnh nghề nghiệp; chăm sóc sức khỏe ban đầu; truyền thông giáo dục sức khỏe; … Thứ hai, về an toàn thực phẩm: xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình, định mức kinh tế kĩ thuật đảm bảo an toàn thực phẩm; kiểm nghiệm, kiểm tra, công bố, công nhận chất lượng về an toàn thực phẩm… 1 Thứ ba, về khám chữa bệnh: các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng, chỉnh hình, thẩm mỹ, giám định (y khoa, pháp y, pháp y tâm thần), sức khỏe sinh sản và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình… Thứ tư, về thuốc và mỹ phẩm: sản xuất, lưu thông, nhập khẩu nguyên liệu làm thuốc; điều kiện hành nghề dược; chế độ sử dụng thuốc, xây dựng dược điển, dược thư quốc gia; nghiên cứu, kiểm nghiệm, đăng ký thuốc,… Thứ năm, về y, dược học cổ truyền: chữa bệnh, khám bệnh, sản xuất, điều kiện hành nghề y, dược cổ truyền, kiểm nghiệm thuốc đông y, ,… Thứ sáu, về trang thiết bị y tế: sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật, kiểm định về trang thiết bị y tế…[15]. Sự cần thiết phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động y tế 1. Thực hiện chức năng quản lý ngành, lĩnh vực Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng, là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước ta. Nghị quyết 20/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương về “Tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” đã khẳng định mục tiêu không ngừng phấn đấu nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam; bảo đảm mọi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc tham gia và hưởng thụ bảo hiểm y tế và các dịch vụ có liên quan.
Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia; được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp và nhiều đạo luật quan trọng. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” [26]. 1 Như đã phân tích ở trên, Nhà nước là một tổ chức đặc biệt có nhiệm vụ duy trì các trật tự xã hội. Và chỉ có Nhà nước với công cụ là pháp luật cùng các biện pháp cưỡng chế mới đảm bảo được quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế của người dân.
Ngày nay, cuộc sống ngày càng được đổi mới, cải thiện; công nghệ hiện đại được áp dụng vào lĩnh vực y tế ngày một nhiều, dược phẩm phục vụ cho sức khỏe con người ngày một tốt hơn. Đồng thời, người dân nhận thức về sức khỏe ngày một cao; nhu cầu liên quan đến sức khỏe ngày một tăng cao. Người dân có yêu cầu đảm bảo sức khỏe ngay cả khi họ chưa mắc bất kì một bệnh gì; đó chính là nhu cầu bảo vệ sức khỏe trong cuộc sống hiện đại; khác với trước đây, chỉ khi mắc bệnh người dân mới quan tâm đến vấn đề chữa trị. Do đó, quản lý nhà nước về y tế là vô cùng cần thiết.
Để tránh tình trạng thiếu công bằng trong lĩnh vực y tế, không để tình trạng chỉ có người giàu mới được đáp ứng các nhu cầu liên quan đến sức khỏe bản thân. Chính điều này cần sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực y tế. Thực tế của ngành y tế Thực trạng ngành y tế nước ta, về số lượng, theo thống kê chung về nhân lực của ngành y tế, hiện cả nước có khoảng 345.000 nhân viên y tế, trong đó số lượng bác sĩ là trên 55 nghìn người, tương ứng với tỷ lệ 7,2 bác sĩ/1 vạn dân, còn số y tá và hộ lý là 105 nghìn người, tương ứng 13 y tá, hộ lý/1 vạn dân [43]. Những con số này đã phần nào phản ánh sự thiếu hụt nhân sự làm việc trong khối ngành Khoa học Sức khỏe những năm gần đây.
Số lượng y bác sĩ và nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao cũng không nhiều. Số cán bộ y tế trình độ cao đẳng, trung cấp chiếm tới trên 1/2 tổng số cán bộ, trong khi số cán bộ có trình độ đại học chỉ chiếm khoảng 1/3 và số cán bộ có trình độ thạc sĩ trở lên khoảng 10%. Số lượng nhân sự không đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn để hành nghề, nhưng vẫn được tham gia vào công tác chạy chữa đã dẫn đến việc đã xảy ra nhiều hậu quả đáng tiếc. 1 Việc này cũng dần làm mất lòng tin của người dân vào bộ phận những người làm ngành Y khác.
Bên cạnh đó, tình trạng thiếu nguồn lực trầm trọng thể hiện rõ nhất tại các vùng sâu, vùng xa, các bệnh viện tuyến dưới ở địa phương. Sự khác biệt về thu nhập và điều kiện làm việc cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng phân bố cán bộ y tế không đồng đều này giữa các khu vực [43]. Để đạt được mục tiêu mọi người dân đều được quan tâm, chăm sóc sức khỏe cá nhân và có quyền tiếp cận các dịch vụ y tế; Nhà nước phải dựa vào quyền lực và nguồn lực đặc biệt để thực hiện các dịch vụ y tế mang tính công cộng thuần túy; điều mà không có một tổ chức hay cá nhân nào có thể thực hiện được điều đó. Bên cạnh đó, Nhà nước còn sắp xếp, tổ chức một cách có hệ thống mạng lưới y tế từ Trung ương đến địa phương, từ đơn giản đến chuyên sâu; cũng để đạt được mục tiêu quan trọng được đề ra đó là đảm bảo sức khỏe của toàn dân.
Ngày nay, bất kì hoạt động cung ứng dịch vụ nào cũng đều hướng đến lợi nhuận. Tuy nhiên, nguyên tắc hoạt động của y tế lại không hướng đến lợi nhuận. Do đó, để đảm bảo các cơ sở y tế không phát triển một cách tự phát thành các đơn vị kinh doanh chạy theo lợi nhuận. Các cơ sở y tế tư nhân có bước phát triển lớn, đóng vai trò quan trọng trong cung ứng dịch vụ y tế cho người dân.
Số bệnh viện và số giường bệnh ngoài công lập tăng nhanh: Năm 2005 có 43 bệnh viện trên địa bàn của 9 tỉnh, thành phố với 3.324 giường bệnh, nay đã tăng lên 250 bệnh viện với 15.475 giường bệnh (đạt 1,7 giường/vạn dân, chiếm 15% số bệnh viện và 5,6% số giường bệnh trong toàn quốc), có khoảng gần 40.000 phòng khám đa khoa, chuyên khoa, cung cấp 43% dịch vụ ngoại trú và 2,1% tổng số dịch vụ nội trú cho người dân (một số bệnh viện 100% vốn nước ngoài có trang thiết bị hiện đại đã được đưa vào hoạt động). Một số phòng khám bác sĩ gia đình tư nhân tham gia thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu [11]. 1 Hơn thế nữa, lĩnh vực y tế là lĩnh vực ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng của con người.