Tổng quan nghiên cứu

Khu vực nông thôn Việt Nam hiện là địa bàn sinh sống của hơn 70% dân số cả nước, giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế bền vững. Tại huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên – một huyện vùng cao biên giới có tới 75.315,68 ha đồi núi (chiếm 62,4% tổng diện tích tự nhiên) và quy mô dân số đạt 68.415 người năm 2021, công cuộc xây dựng nông thôn mới đang đối mặt với vô vàn thách thức khắc nghiệt. Tính đến hết năm 2021, mức độ hoàn thành tiêu chí nông thôn mới của toàn huyện đạt bình quân 10,46 tiêu chí/xã, chưa có bất kỳ xã nào cán đích nông thôn mới. Tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức báo động với 45,13% (tương đương 5.014 hộ nghèo), trong khi thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn chỉ đạt 15,49 triệu đồng/người/năm, tương đương 43,3% so với chuẩn quy định 36 triệu đồng.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới với những rào cản nghiêm trọng về địa hình chia cắt, xuất phát điểm kinh tế thấp và sự hạn chế trong năng lực điều hành công quyền tại địa phương. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về nông thôn mới, phân tích thực trạng thực thi chính sách trong giai đoạn 2019 - 2021, xác định các điểm nghẽn cốt lõi và kiến nghị hệ thống giải pháp ứng dụng cho giai đoạn 2022 - 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để chính quyền địa phương tái phân bổ ngân sách, hoàn thiện thể chế quản lý và thúc đẩy nâng cao sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý công hiện đại và lý thuyết phát triển nông thôn bền vững làm nền tảng phân tích. Quản lý công hiện đại nhấn mạnh sự chuyển đổi từ điều hành hành chính truyền thống sang quản trị định hướng kết quả, nâng cao trách nhiệm giải trình và phát huy tối đa quyền làm chủ của người dân. Đồng thời, lý thuyết phát triển nông thôn bền vững đóng vai trò định hướng sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái vùng cao.

Khung phân tích của đề tài xoay quanh ba khái niệm cốt lõi: Nông thôn theo quy định tại Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT; Nông thôn mới theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X; và Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới. Khái niệm quản lý nhà nước được cụ thể hóa thành quy trình tác động bằng quyền lực công thông qua năm chức năng cơ bản: hoạch định quy hoạch, ban hành và thực thi thể chế, kiện toàn bộ máy tổ chức, chỉ đạo thực hiện 11 nội dung trọng tâm và kiểm tra, giám sát việc thực hiện 19 tiêu chí quốc gia. Mô hình nghiên cứu xem xét tác động tổng hợp của năm nhóm yếu tố: điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội, đường lối chính sách vĩ mô, năng lực cán bộ công chức, văn hóa truyền thống bản địa và cơ chế huy động vốn đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp đồng bộ giữa thông tin thứ cấp và sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội giai đoạn 2019 - 2021 của Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông và hệ thống văn bản pháp quy liên quan.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua kỹ thuật điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng. Phương pháp này được lựa chọn vì đảm bảo tính đại diện cao cho các tiểu vùng địa hình và các dân tộc thiểu số khác nhau trên địa bàn. Quy mô mẫu nghiên cứu gồm hai nhóm độc lập: nhóm cán bộ quản lý có cỡ mẫu 42 người (gồm 2 cán bộ cấp huyện, 16 cán bộ chuyên trách cấp xã thuộc 8 xã nghiên cứu và 24 trưởng thôn bản); nhóm người dân có cỡ mẫu 300 chủ hộ gia đình. Cỡ mẫu 300 được xác định dựa trên công thức chọn mẫu của Tabachnick và Fidell: quy mô mẫu tối thiểu lớn hơn 8 nhân với số biến độc lập cộng 50. Với mô hình gồm 26 biến quan sát, cỡ mẫu chuẩn yêu cầu là 258, do đó cỡ mẫu 300 hoàn toàn đảm bảo độ tin cậy và hạn chế tối đa sai số điều tra.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh chuỗi thời gian và phân tích hồi quy tương quan trên phần mềm chuyên dụng SPSS kết hợp bảng tính Microsoft Excel. Việc lựa chọn các công cụ này nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của nhân dân thông qua thang đo năm mức độ, đồng thời đối chiếu sự biến động của từng chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật theo thời gian khảo sát trực tiếp từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện nổi bật đầu tiên là sự thành công vượt bậc trong công tác quy hoạch không gian và kiên cố hóa thủy lợi. Toàn huyện có 13/13 xã đạt chuẩn tiêu chí số 1 về quy hoạch (tỷ lệ 100%) và 13/13 xã đạt chuẩn tiêu chí số 3 về thủy lợi. Tổng chiều dài kênh mương được kiên cố hóa đạt 310 km trên tổng số 371,1 km (đạt tỷ lệ 83,53%), đảm bảo năng lực tưới tiêu chủ động cho hơn 1.762 ha lúa ruộng, mở rộng diện tích thâm canh vụ đông thêm 20% đến 30% diện tích đất canh tác.

Trái ngược với thành tựu trên, hệ thống hạ tầng giao thông và điện nông thôn đang là rào cản kỹ thuật rất lớn. Toàn huyện mới chỉ có 02/13 xã đạt tiêu chí giao thông (tỷ lệ 15,38%). Chiều dài đường trục liên xã được cứng hóa đạt chuẩn chỉ đạt 99,9 km trên tổng số 226,15 km (tỷ lệ 44,17%); đặc biệt, hệ thống đường ngõ xóm dân sinh do xã quản lý chỉ mới bê tông hóa được 67,89 km trên tổng số 520 km (đạt tỷ lệ rất thấp 13,05%). Về hạ tầng điện lưới, chỉ có 04/13 xã đạt tiêu chí số 4, dù tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia thường xuyên đạt 77,96% tại 153/198 bản.

Điểm nghẽn nghiêm trọng nhất của huyện nằm ở các tiêu chí chất lượng sống và sinh kế. Đến hết năm 2021, huyện Điện Biên Đông có 0/13 xã đạt tiêu chí số 10 (thu nhập) và tiêu chí số 11 (hộ nghèo). Thu nhập bình quân chỉ đạt 15,49 triệu đồng/người/năm, trong khi chuẩn nghèo đa chiều chiếm tới 45,13% tổng số hộ dân toàn huyện (5.014 hộ nghèo). Tình trạng nhà ở tạm bợ, dột nát vẫn còn 1.431 căn nhà (tỷ lệ 10,33%), dẫn tới chỉ có 02/13 xã hoàn thành tiêu chí nhà ở dân cư.

Sự phân hóa rõ nét giữa các tiểu vùng tạo ra khoảng cách lớn về kết quả thực hiện. Huyện hình thành hai nhóm phân tầng rõ rệt: nhóm các xã tương đối phát triển như Mường Luân đạt 16 tiêu chí, Luân Giói đạt 16 tiêu chí và Pu Nhi đạt 15 tiêu chí; ngược lại, nhóm các xã vùng sâu, địa hình hiểm trở như Tìa Dình và Chiềng Sơ mới chỉ đạt 7 tiêu chí.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ sự thiếu hụt nguồn lực đầu tư công và cơ chế huy động vốn ngoài ngân sách còn nhiều bất cập. Phần lớn ngân sách huyện phụ thuộc vào trợ cấp trung ương, trong khi tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp và nội lực dân cư rất thấp do mức tích lũy kinh tế hộ gia đình ở ngưỡng tối thiểu. Thêm vào đó, đội ngũ cán bộ công chức cấp xã đa phần kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn về quản lý dự án nông thôn mới còn hạn chế, dẫn đến việc lập kế hoạch vốn và giám sát thi công cơ sở hạ tầng thiếu tính đồng bộ. Tâm lý ỷ lại vào chính sách bảo trợ của Nhà nước vẫn tồn tại dai dẳng trong một bộ phận cộng đồng dân tộc thiểu số.

Khi so sánh với bài học thực tiễn tại các địa phương có nét tương đồng, sự khác biệt trở nên rõ ràng. Tại tỉnh Sơn La, sự chỉ đạo quyết liệt đã giúp 100% số xã có đường ô tô đến trung tâm, thu nhập bình quân nông thôn đạt trên 44 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh xuống 18,62%. Tại tỉnh Hà Giang, việc triển khai đề án hỗ trợ một triệu tấn xi măng theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm đã giúp địa phương này bê tông hóa thần tốc hơn 2.200 km đường giao thông nông thôn và nâng tỷ lệ xã đạt chuẩn lên 38/195 xã.

Dữ liệu thực trạng tại huyện Điện Biên Đông có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ đạt được giữa các nhóm tiêu chí hạ tầng cứng và hạ tầng kinh tế - xã hội tại 13 xã. Đồng thời, một bảng ma trận số liệu phân bổ nguồn vốn đầu tư công sẽ phản ánh rõ mức độ mất cân đối giữa chi phí xây lắp hạ tầng và kinh phí hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Kiện toàn bộ máy điều hành và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên Đông cần tái cấu trúc Văn phòng Điều phối nông thôn mới cấp huyện, ban hành quy chế phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo cấp xã. Mục tiêu đặt ra là 100% cán bộ, công chức làm công tác nông thôn mới tại 13 xã được tham gia bồi dưỡng chuyên môn về quản lý dự án công và phân tích dữ liệu kinh tế cơ sở. Thời gian hoàn thành việc rà soát và kiện toàn bộ máy trong quý II/2023.

Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông và xóa nhà tạm dột nát: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã triển khai cơ chế hỗ trợ vật liệu xi măng tương tự kinh nghiệm của Hà Giang để kích hoạt sức dân. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cứng hóa đường trục liên xã đạt 75% (tương đương thi công thêm 70 km đường chuẩn) và xóa bỏ tối thiểu 800 căn nhà tạm dột nát để giảm tỷ lệ nhà tạm xuống dưới 5% trước năm 2025.

Đổi mới mô hình phát triển sinh kế và gia tăng thu nhập: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện chỉ đạo đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp sang hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tận dụng 75.315,68 ha đồi núi để phát triển chăn nuôi đại gia súc và trồng cây đặc sản. Mục tiêu cụ thể là nâng quy mô đàn gia súc vượt mốc 95.000 con (tăng trưởng 8% so với năm 2021), thành lập mới 5 hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới gắn với tiêu thụ sản phẩm, phấn đấu nâng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn lên 25 triệu đồng/người/năm vào cuối năm 2025.

Tăng cường phân bổ vốn lồng ghép và thanh tra giám sát: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chủ trì tích hợp nguồn vốn từ ba Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm tránh phân tán, thất thoát. Tăng tỷ trọng vốn đóng góp từ doanh nghiệp và xã hội hóa đạt tối thiểu 15% tổng mức đầu tư hạ tầng. Thanh tra huyện định kỳ tổ chức thanh kiểm tra tối thiểu 2 cuộc/năm tại các xã điểm, kết hợp phát huy vai trò của Ban Thanh tra nhân dân để đảm bảo 100% công trình công cộng có sự giám sát của cộng đồng dân cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại các huyện miền núi khó khăn: Tài liệu cung cấp góc nhìn thực tiễn toàn diện về quy trình chỉ đạo, quản lý nguồn vốn và kỹ năng điều hành bộ máy cơ sở nhằm gỡ khó cho các xã vùng cao có tỷ lệ hộ nghèo trên 40%.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế và Quản lý công: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về cách thức vận dụng mô hình chọn mẫu Tabachnick và Fidell với 26 biến nghiên cứu, cùng phương pháp khảo sát ngẫu nhiên phân tầng 300 mẫu tại địa bàn có tính chất nhân khẩu học phức tạp.

Ban điều hành các chương trình, dự án phát triển nông thôn và tổ chức phi chính phủ: Luận văn cung cấp bức tranh số liệu xác thực về thực trạng nghèo đa chiều của 5.014 hộ dân và 68.415 nhân khẩu, giúp các tổ chức thiết kế những chương trình tài trợ sinh kế, hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng thủy sản và nước sạch sát thực tế.

Giảng viên các trường đại học khối kinh tế và học viện hành chính: Luận văn đóng vai trò là một case study điển hình phục vụ giảng dạy các học phần Quản lý kinh tế nông nghiệp, Hoạch định chính sách công và Phát triển nông thôn bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên Đông là gì?

Thách thức lớn nhất nằm ở tiêu chí thu nhập và giảm nghèo đa chiều. Tính đến năm 2021, toàn bộ 13 xã của huyện đều chưa hoàn thành hai tiêu chí này. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện ở mức 45,13% với 5.014 hộ nghèo, trong khi thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 15,49 triệu đồng/người/năm, tương đương 43,3% so với ngưỡng chuẩn 36 triệu đồng/người/năm.

Luận văn đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát như thế nào để đảm bảo tính khách quan khoa học?

Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng dựa trên tỷ lệ dân số thực tế giữa các xã. Tổng dung lượng mẫu khảo sát trực tiếp gồm 42 cán bộ quản lý các cấp và 300 người dân đại diện hộ gia đình. Con số 300 mẫu vượt mức tối thiểu 258 theo chuẩn công thức Tabachnick và Fidell cho mô hình 26 biến độc lập.

Lĩnh vực nào ghi nhận thành tựu xây dựng hạ tầng nổi bật nhất của huyện trong giai đoạn nghiên cứu?

Công tác quy hoạch và kiên cố hóa thủy lợi là hai lĩnh vực thành công nhất với 13/13 xã đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 100%. Huyện đã kiên cố hóa được 310 km trên tổng số 371,1 km kênh mương (đạt tỷ lệ 83,53%), phục vụ tưới tiêu ổn định cho hơn 1.762 ha đất lúa ruộng và mở rộng diện tích canh tác cây vụ đông thêm 20% đến 30%.

Huyện Điện Biên Đông có thể tiếp thu bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ tỉnh lân cận như Hà Giang?

Điện Biên Đông cần áp dụng bài học của tỉnh Hà Giang về cơ chế Nhà nước hỗ trợ xi măng kết hợp nhân dân đóng góp ngày công. Mô hình này đã giúp Hà Giang bê tông hóa hơn 2.200 km đường giao thông. Đây là giải pháp đột phá để Điện Biên Đông tháo gỡ điểm nghẽn giao thông nông thôn khi tỷ lệ cứng hóa đường dân sinh mới đạt 13,05%.

Các giải pháp trọng tâm về quản lý tài chính được luận văn đề xuất cho giai đoạn 2022 - 2025 là gì?

Luận văn kiến nghị lồng ghép triệt để nguồn lực từ các Chương trình mục tiêu quốc gia, công khai quy hoạch để thu hút tư nhân và đa dạng hóa hình thức huy động. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng vốn huy động xã hội hóa ngoài ngân sách nhà nước lên mức tối thiểu 15% tổng vốn đầu tư, đồng thời thực hiện kiểm tra định kỳ 100% dự án đầu tư.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Trọng Huế đã giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện vùng cao Điện Biên Đông với các đóng góp cốt lõi:

  • Khái quát và đánh giá chính xác thực trạng xây dựng nông thôn mới tại 13 xã với mức độ đạt chuẩn bình quân 10,46 tiêu chí/xã tính đến năm 2021.
  • Nhận diện chuẩn xác nút thắt sinh kế then chốt khi 0/13 xã đạt chuẩn tiêu chí thu nhập (15,49 triệu đồng/người/năm) và hộ nghèo (chiếm 45,13% với 5.014 hộ).
  • Thiết lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực với cỡ mẫu khảo sát 342 đối tượng (42 cán bộ và 300 người dân), xử lý khoa học qua phần mềm thống kê chuyên dụng.
  • Đề xuất hệ thống 08 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, chú trọng phân cấp quản lý, cơ chế hỗ trợ vật liệu xi măng và phát triển kinh tế chăn nuôi đại gia súc.
  • Xác lập lộ trình can thiệp trọng điểm giai đoạn 2022 - 2025 nhằm nâng thu nhập lên 25 triệu đồng/người/năm, đưa tối thiểu 2 đến 3 xã cán đích nông thôn mới.

Các cấp chính quyền địa phương và nhà nghiên cứu chính sách cần nhanh chóng tham khảo, ứng dụng các khuyến nghị này vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thường niên nhằm đưa phong trào xây dựng nông thôn mới tại huyện Điện Biên Đông về đích đúng lộ trình.