phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới tại huyện Mai châu, tỉnh Hòa Bình Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới tại huyện Mai châu, tỉnh Hòa Bình 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Khái niệm về nông thôn Khái niệm nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã.
Nơi mà ở đó ngƣời dân sinh sống chủ yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp và theo lối sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng, xã, theo những phong tục tập quán đặc thù của địa phƣơng. Khái niệm về nông thôn mới Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 đƣa ra mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dƣới sự lãnh đạo của Đảng đƣợc tăng cƣờng. Nhƣ vậy, nông thôn mới trƣớc tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát theo các nội dung cơ bản sau: Đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trong nông thôn với khuôn viên, cảch quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn. Sản xuất phải phát triển bền vững theo hƣớng kinh tế hàng hoá; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói.
Đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng đƣợc nâng cao. Bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trƣờng, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái. 8 Bản sắc văn hoá dân tộc đƣợc giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phƣơng. Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
Hay nói cách khác: Nông thôn mới là nông thôn mà trong đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của ngƣời dân không ngừng đƣợc nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Nông dân đƣợc đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Bên cạnh đó, nông thôn mới phải có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ.
Sức mạnh của hệ thống chính trị đƣợc nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hƣơng, đất nƣớc trong giai đoạn mới. Sau 30 năm thực hiện đƣờng lối đổi mới dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nƣớc ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt đƣợc chƣa tƣơng xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế.
Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng nhƣ giao thông, thuỷ lợi, trƣờng học, trạm y tế, cấp nƣớc… còn yếu kém, môi trƣờng ngày càng ô nhiễm. Đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giào nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Không thể có một nƣớc công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp và xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hƣơng, đất 9 nƣớc; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho ngƣời dân sinh sống ở địa bàn nông thôn. Vì vậy, ta có thể hiểu: Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cƣ ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trƣờng và an ninh nông thôn đƣợc đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân đƣợc nâng cao.
Khái niệm về quản lý Thuật ngữ “quản lý” có nhiều khái niệm và cách hiểu, nhƣng ta có thể hiểu một cách thống nhất đầy đủ nhƣ sau: “ Quản lý là sự tác động có chủ đích, có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” [14; tr. Khái niệm về quản lý nhà nƣớc Thuật ngữ quản lý nhà nước có nhiều cách hiểu khác nhau: - Quản lý nhà nƣớc là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nƣớc để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của công dân và mọi tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật tự xã hội theo những mục tiêu đã định. - Quản lý nhà nƣớc là hoạt động của nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nƣớc. - Quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nƣớc để điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con ngƣời.
- Quản lý nhà nƣớc là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nƣớc; là tổng thể về thể chế, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nƣớc có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nƣớc do tất cả các cơ quan nhà nƣớc (lập pháp, hành pháp, tƣ pháp) tiến hành bằng các văn bản quy phạm 10 pháp luật để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nƣớc giao cho trong việc tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Nhƣ vậy, thông qua những điểm chung của các khái niệm, một cách chung nhất – ta có thể hiểu: “Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [14;tr. Khái niệm quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới Từ khái niệm “Quản lý nhà nƣớc” và khái niệm về “nông thôn mới”, có thể hiểu: Quản lý nhà nƣớc về xây dựng nông thôn mới chính là việc Nhà nƣớc thực hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lƣợc, xây dựng các chính sách, kế hoạch và triển khai các chƣơng trình hỗ trợ nhằm tác động tới sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn, làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hƣớng kinh tế hàng hóa; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí đƣợc nâng cao, môi trƣờng sinh thái đƣợc bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và đƣợc tăng cƣờng; an ninh trật tự đƣợc giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao; theo định hƣớng XHCN 1. QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới 1. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đƣờng, trƣờng, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn đƣợc cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít đƣợc quan tâm đầu tƣ; hệ thống thuỷ lợi cần đƣợc đầu tƣ nâng cấp; chất lƣợng lƣới điện nông thôn chƣa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y 11 tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lƣới chợ nông thôn chƣa đƣợc đầu tƣ đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp. Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cƣ phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển. Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chƣa gắn chế biến với thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm; chất lƣợng nông sản chƣa đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chƣa đồng bộ. Do thu nhập của nông dân thấp; số lƣợng doanh nghiệp đầu tƣ vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa ngƣời sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chƣa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phƣơng không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cƣ nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát.