Nghiên Cứu Quản Lý Nhà Nước Về Vận Tải Đa Phương Thức Trong Hoạt Động Logistics Tại Việt Nam

Chuyên khảo phân tích Nghiên cứu quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ

2022

180
10
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Các công trình nghiên cứu trong nước

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về logistics

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về vận tải đa phương thức

1.1.3. Các công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải

1.2. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

1.2.1. Các công trình nghiên cứu về logistics

1.2.2. Các nghiên cứu về vận tải đa phương thức

1.2.3. Các công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải

1.3. Khoảng trống khoa học và định hướng nghiên cứu của luận án

1.3.1. Đánh giá chung những kết quả của các công trình đã nghiên cứu

1.3.2. Khoảng trống khoa học

1.3.3. Khung nghiên cứu của luận án

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI VIỆT NAM

2.1. Vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics

2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics

2.1.2. Vai trò của vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics

2.1.3. Tác động của vận tải đa phương thức đối với hoạt động logistics

2.2. Quản lý nhà nước đối với VTĐPT trong hoạt động logistics

2.2.1. Khái niệm về quản lý nhà nước

2.2.2. Nội dung, phương pháp và vai trò của quản lý Nhà nước

2.2.3. Công cụ quản lý Nhà nước

2.2.4. Đánh giá QLNN về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics

2.2.5. Các nhân tố tác động đến QLNN về VTĐPT trong hoạt động logistics

2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về logistics và VTĐPT trên thế giới

2.3.1. Kinh nghiệm của các nước ASEAN

2.3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

2.3.3. Kinh nghiệm của Nhật Bản

2.3.4. Kinh nghiệm của Mỹ và châu Âu

2.3.5. Bài học kinh nghiệm QLNN về logistics và VTĐPT cho Việt Nam

3. PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI VIỆT NAM

3.1. Thực trạng các phương thức vận tải

3.1.1. Vận tải đường bộ

3.1.2. Vận tải đường sắt

3.1.3. Vận tải đường thủy nội địa

3.1.4. Vận tải đường biển

3.1.5. Vận tải đường hàng không

3.2. Thực trạng vận tải đa phương thức

3.2.1. Cơ sở hạ tầng

3.2.2. Dịch vụ vận tải. Đánh giá thực trạng vận tải đa phương thức

3.3. Thực trạng về quản lý Nhà nước đối với VTĐPT

3.3.1. Thực trạng mô hình tổ chức

3.3.2. Thực trạng về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

3.3.3. Công tác chỉ đạo, điều hành về vận tải đa phương thức

3.3.4. Đánh giá về thực trạng công tác QLNN về VTĐPT và logistics ở Việt Nam

3.3.4.1. Khảo sát ý kiến chuyên gia về QLNN đối với VTĐPT trong hoạt động logistics

3.3.5. Thuận lợi của QLNN về VTĐPT trong hoạt động logistics

3.3.6. Hạn chế trong QLNN về VTĐPT trong hoạt động logistics

4. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC TRONG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

4.1. Định hướng phát triển vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt nam đến năm 2030

4.1.1. Quan điểm đổi mới quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức

4.1.2. Mục tiêu quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức

4.1.3. Nhiệm vụ cụ thể của quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức

4.2. Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước

4.2.1. Nội dung thực hiện và kết quả kỳ vọng

4.2.2. Đề xuất mô hình tổ chức

4.2.3. Đề xuất thành lập Cục quản lý Vận tải đa phương thức

4.3. Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách

4.3.1. Nội dung thực hiện và kết quả kỳ vọng

4.3.2. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật

4.3.3. Chính sách phát triển nguồn nhân lực quản lý

4.3.4. Chính sách khuyến khích phát triển đối với doanh nghiệp

4.4. Giải pháp về phát triển kết cấu hạ tầng

4.4.1. Nội dung thực hiện và kết quả kỳ vọng

4.4.2. Phát triển kết cấu hạ tầng cứng

4.4.3. Phát triển kết cấu hạ tầng mềm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA NGHIÊN CỨU SINH

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Nhà Nước Vận Tải Đa Phương Thức

Dịch vụ logistics Việt Nam đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, tuy nhiên, sức cạnh tranh còn yếu. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy hiệu quả hoạt động logistics của Việt Nam ở mức trung bình, với chỉ số LPI biến động qua các năm. Chính phủ đã ban hành Quyết định số 200/QĐ-TTg để nâng cao năng lực cạnh tranh logistics đến năm 2025, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều thách thức. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, kết nối giữa các phương thức vận tải chưa hiệu quả, và các trung tâm logistics chưa được đầu tư đúng mức. Điều này dẫn đến chi phí logistics cao, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Quyết định 221/QĐ-TTg sửa đổi Quyết định 200/QĐ-TTg nhằm giảm chi phí logistics và phát triển ngành logistics thành ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao, theo tài liệu gốc.

1.1. Tình hình phát triển dịch vụ logistics tại Việt Nam

Dịch vụ logistics Việt Nam mới hình thành và còn nhiều hạn chế. Sức cạnh tranh yếu, hiệu quả hoạt động trung bình theo đánh giá của WB. Chỉ số LPI chưa ổn định và chưa đạt được thứ hạng cao trên thế giới. Cần có giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics hiệu quả hơn. Theo báo cáo của WB, 'Hiệu quả hoạt động logistics Việt Nam ở mức trung bình'.

1.2. Vai trò của vận tải đa phương thức trong logistics hiện đại

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, vận tải đa phương thức đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng. Kết hợp nhiều phương thức vận tải giúp tối ưu hóa hoạt động vận chuyển, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả. Các công ty logistics cần ứng dụng vận tải đa phương thức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu phát triển vận tải hàng hóa đa phương thức tích hợp với dịch vụ logistics hiệu quả.

II. Thách Thức Quản Lý Vận Tải Đa Phương Thức Hiện Nay

Việc phát triển các loại hình vận tải hàng hóa chưa thực sự đồng bộ. Số lượng phương tiện vận chuyển hàng hóa tập trung quá nhiều vào đường bộ, trong khi các phương thức khác như đường sắt chưa phát huy được tiềm năng. Việc vận chuyển đơn phương thức làm tăng giá thành sản xuất và hàng hóa xuất nhập khẩu. Tăng cường kết nối vận tải đa phương thức chính là hoạt động xương sống của dịch vụ logistics. Quản lý Nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics còn nhiều hạn chế, chưa có định hướng cụ thể, hệ thống và đồng bộ.

2.1. Bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật về vận tải đa phương thức

Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động vận tải đa phương thức còn nhiều bất cập. Chưa có luật riêng về vận tải đa phương thức, mà chỉ có các Nghị định điều chỉnh. Điều này gây khó khăn cho việc quản lý và phát triển loại hình vận tải này. Các Luật khác như Luật Đường sắt, Luật Giao thông đường bộ, Luật Hàng hải lại có trước, tạo nên sự chồng chéo. Ví dụ, 'chỉ có Nghị định số 125/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/10/2003 quy định một số điều liên quan đến vận tải đa phương thức quốc tế, Nghị định số 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức và Nghị định 144/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định về vận tải đa phương thức.'

2.2. Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước còn chồng chéo

Trách nhiệm và giới hạn quản lý giữa các cơ quan nhà nước trong việc quản lý hoạt động vận tải đa phương thức chưa được phân định rõ ràng. Điều này làm cho việc quản lý và điều hành gặp nhiều khó khăn. Nhiều cơ quan tham gia quản lý, nhưng thiếu một cơ quan điều hành chung về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics. Ví dụ, theo quy định của Nghị định số 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức và Nghị định số 144/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về vận tải đa phương thức (Nghị định số 87/2009/NĐ-CP) thì Bộ Giao thông Vận tải là cơ quan cấp giấy phép kinh doanh vận tải đa phương thức.

III. Cách Hoàn Thiện Mô Hình Tổ Chức Quản Lý Nhà Nước

Để khắc phục những hạn chế, cần có giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước. Nội dung thực hiện và kết quả kỳ vọng là tạo ra một hệ thống quản lý hiệu quả, minh bạch và đồng bộ. Cần đề xuất mô hình tổ chức phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Một trong những giải pháp là đề xuất thành lập Cục quản lý Vận tải đa phương thức, để chuyên trách quản lý và điều hành hoạt động vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics.

3.1. Đề xuất thành lập Cục Quản Lý Vận Tải Đa Phương Thức

Việc thành lập Cục Quản Lý Vận Tải Đa Phương Thức sẽ giúp tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý. Cục này sẽ chịu trách nhiệm xây dựng và triển khai các chính sách, quy định liên quan đến vận tải đa phương thức. Đồng thời, Cục cũng sẽ điều phối hoạt động giữa các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Cục quản lý vận tải đa phương thức được đề xuất trong tài liệu.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước về logistics

Để quản lý hiệu quả hoạt động vận tải đa phương thức, cần nâng cao năng lực của cán bộ quản lý nhà nước. Cần tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ. Đồng thời, cần thu hút những người có trình độ và kinh nghiệm vào làm việc trong lĩnh vực này. Nguồn nhân lực logistics chất lượng cao là yếu tố then chốt để phát triển ngành.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Cơ Chế Chính Sách Vận Tải Đa Phương Thức

Hoàn thiện cơ chế chính sách là yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển vận tải đa phương thức. Cần rà soát và sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành để phù hợp với tình hình mới. Đồng thời, cần xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển đối với doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực vận tải đa phương thức. Chính sách phát triển nguồn nhân lực quản lý cũng cần được chú trọng.

4.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về vận tải đa phương thức

Cần xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và minh bạch về vận tải đa phương thức. Cần ban hành luật riêng về vận tải đa phương thức để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động này. Các văn bản pháp luật cần quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, cũng như các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Một số văn bản pháp lý có liên quan đến hoạt động vận tải đa phương thức được liệt kê trong tài liệu.

4.2. Chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển vận tải đa phương thức

Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực vận tải đa phương thức. Các chính sách này có thể bao gồm hỗ trợ về vốn, thuế, phí, cũng như tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hành chính. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ mới và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các doanh nghiệp logistics cần được tạo điều kiện để phát triển và cạnh tranh.

V. Phát Triển Kết Cấu Hạ Tầng Hỗ Trợ Vận Tải Đa Phương Thức

Phát triển kết cấu hạ tầng là yếu tố then chốt để phát triển vận tải đa phương thức. Cần đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các công trình giao thông như đường bộ, đường sắt, cảng biển, cảng hàng không, trung tâm logistics và kho bãi. Đồng thời, cần phát triển kết cấu hạ tầng mềm như hệ thống thông tin, dịch vụ hỗ trợ và nguồn nhân lực. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương trong việc phát triển kết cấu hạ tầng.

5.1. Đầu tư vào hạ tầng cứng cho vận tải đa phương thức

Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông là vô cùng quan trọng. Cần tập trung vào việc nâng cấp và xây dựng mới các tuyến đường bộ, đường sắt, cảng biển và cảng hàng không. Đồng thời, cần xây dựng các trung tâm logistics hiện đại, có khả năng kết nối các phương thức vận tải khác nhau. Các địa điểm đề xuất TTĐM vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics được liệt kê trong tài liệu.

5.2. Phát triển hạ tầng mềm và ứng dụng công nghệ thông tin

Ngoài cơ sở hạ tầng cứng, cần chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng mềm. Cần xây dựng hệ thống thông tin logistics hiện đại, có khả năng kết nối các bên liên quan. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và điều hành hoạt động vận tải đa phương thức. Sơ đồ kết nối hạ tầng mềm VTĐPT trong hoạt động logistics quốc gia được đề xuất trong tài liệu.

VI. Định Hướng Phát Triển Vận Tải Đa Phương Thức Đến Năm 2030

Định hướng phát triển vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại Việt Nam đến năm 2030 cần dựa trên quan điểm đổi mới quản lý Nhà nước. Mục tiêu là xây dựng một hệ thống vận tải đa phương thức hiện đại, hiệu quả và bền vững. Nhiệm vụ cụ thể của quản lý Nhà nước là tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và ứng dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh.

6.1. Quan điểm đổi mới quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức

Quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức cần đổi mới theo hướng tinh gọn, hiệu quả và minh bạch. Cần phân công rõ trách nhiệm và quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước. Đồng thời, cần tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương. Quan trọng là tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

6.2. Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của quản lý nhà nước

Mục tiêu của quản lý nhà nước là xây dựng một hệ thống vận tải đa phương thức hiện đại, hiệu quả và bền vững. Nhiệm vụ cụ thể bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư và ứng dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh. Các giải pháp hoàn thiện công tác QLNN trong vận tải ĐPT và logistics được đề xuất trong tài liệu.

25/05/2025
Nghiên cứu quản lý nhà nước về vận tải đa phương thức trong hoạt động logistics tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước 1.1 Các công trình nghiên cứu về logistics Có thể nói, cuốn sách đầu tiên chuyên sâu về logistics được công bố ở Việt Nam là “Logistics - Những vấn đề cơ bản” của Đoàn Thị Hồng Vân (2003) [24]. Cuốn sách này giới thiệu lý luận cơ bản về logistics như khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới. Sau đó, tác giả giới thiệu tiếp cuốn Quản trị logistics (2006) [25], tập trung vào quản trị logistics. Ở cả 2 cuốn sách, nội dung thực tiễn rất hạn chế, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu các dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, kho bãi… của một số doanh nghiệp Việt Nam.

Giáo trình “Quản trị logistics kinh doanh” của Đại học Thương mại (2011) [31] giới thiệu tổng quan về quản trị logistics kinh doanh, khái niệm và mục tiêu, mô hình quản trị logistics, các quá trình và chức năng logistics cơ bản. Sau đó, đi sâu vào nội dung quản trị logistics cụ thể như dịch vụ khách hàng, quản trị dự trữ, quản trị vận chuyển, quản trị các hoạt động logistics hỗ trợ, thực thi và kiểm soát logistics. Các tài liệu trên đã giới thiệu nhiều quan điểm, khái niệm và nội dung về logistics, nhưng đều tiếp cận ở góc độ vi mô. Phát triển theo hướng tiếp cận này còn có các Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ viết về hoạt động logistics nói chung và các khía cạnh nội dung của logistics nói riêng trong khuôn khổ một doanh nghiệp cụ thể.

Trong những năm vừa qua có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cũng nghiên cứu về dịch vụ logistics, điển hình là Đề tài Logistics và khả năng áp dụng, phát triển logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Như Tiến (2004) [32], tập trung nghiên cứu khía cạnh dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hoá. Công trình này cung cấp cái nhìn tổng quan về dịch vụ logistics nói chung và khả năng phát triển dịch vụ giao nhận hàng hóa ở Việt Nam. Cuốn sách “Quản lý logistics quốc tế” (PGS. Từ Sỹ Sùa, 2015) [39] cũng đã cho thấy cái nhìn khái quát trong hoạt động logistics.

Cụ thể, cuốn sách đã nêu bản chất của logistics nhằm giải quyết việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Qua đó, nhà quản lý cần phải hiểu được những yêu cầu của khách hàng trước khi phát triển và áp dụng một chiến lược logistics để đáp ứng những yêu cầu này. Logistics đề cập đến một quá trình quản lý có tính hệ thống của nhiều hoạt động riêng biệt. Quá trình quản lý này nhằm đem lại lợi ích từ giai đoạn sản xuất đến khách hàng.

Thông thường các lợi ích này tồn tại dưới dạng một sản phẩm hữu hình và phải được sản xuất, vận chuyển đến tận người tiêu dùng và những lợi ích này tồn tại dưới dạng vô hình nên được gọi là các dịch vụ. 9 Đề tài NCKH cấp Nhà nước “Phát triển các dịch vụ logistics ở nước ta trong điều kiện hội nhập quốc tế” (Đặng Đình Đào 2010) [21] tiến hành thu thập số liệu thông qua điều tra, phỏng vấn ở 10 tỉnh, thành phố trong cả nước, là công trình NCKH quy mô nhất cho đến nay liên quan đến logistics ở Việt Nam. Chủ yếu tập trung phân tích các dịch vụ logistics chính của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của đề tài được giới thiệu một cách đầy đủ và chi tiết trong sách chuyên khảo “Logistics - Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” (Đặng Đình Đào, 2011) [20] và “Dịch vụ logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” (2012) [22].

Năm 2014, có đề án phát triển dịch vụ Logistics trong lĩnh vực GTVT Việt Nam đến năm 2020 của Bộ GTVT và nghiên cứu của Bộ Công thương về việc phát triển ngành dịch vụ logistics. Tuy nhiên, phát triển khung chính sách toàn diện cho hệ thống logistics và vận tải đa phương thức vẫn chưa được đề cập trong các nghiên cứu này. Báo cáo của Ngân hàng thế giới (Kho vận hiệu quả - Chìa khóa để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, 2014) [48] xác định chi phí logistics của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực là do hoạt động thiếu hiệu quả và đồng bộ của cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Các dự án cơ sở hạ tầng giao thông vận tải được quy hoạch, xây dựng và phát triển riêng lẻ, không chủ trương tạo hành lang chiến lược, đa phương tiện, không dựa trên cơ sở phân tích hợp lý cung cầu đồng bộ và thống nhất.

Quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông hiện vẫn áp dụng mô hình đơn phương tiện, trong đó các đơn vị Cục/Tổng Cục (phụ trách cảng, đường thủy, cao tốc, đường sắt, đường hàng không) có các chức năng riêng. Gần đây nhất có báo cáo Nghiên cứu và định hướng chiến lược phát triển dịch vụ logistics giai đoạn 2021-2030 của GIZ (2020) [26] tổng hợp thực trạng phát triển dịch vụ logistics của Việt Nam qua các khía cạnh về thể chế chính sách, cơ sở hạ tầng vận tải, hệ thống thông tin, dịch vụ và doanh nghiệp dịch vụ logistics. Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm của Thái Lan, Trung Quốc và Singapore, cũng như các phân tích về thách thức và cơ hội của Việt Nam để xác định quan điểm, định hướng, đề xuất chiến lược phát triển dịch vụ logistics đến năm 2030. Nghiên cứu không đề cập đến vận tải đa phương thức, vận tải container mà chú trọng nhiều hơn đến các dịch vụ logistics nội địa.

Có thể nói, số lượng các nghiên cứu chuyên sâu về tích hợp vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics vẫn còn hạn chế. Hầu hết các nghiên cứu tập trung trên khía cạnh dịch vụ vận tải và giao nhận hàng hóa.2 Các công trình nghiên cứu về vận tải đa phương thức Giáo trình “Giao nhận vận tải hàng hoá quốc tế” (Đinh Ngọc Viện, 2002) [40] là giáo trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế, cũng như các công tác xuất nhập khẩu hàng hóa nước ta. 10 Logistics được xem là quá trình quản lý chuỗi các hoạt động cung cấp có thể mang lại những chi phí thấp hơn, hay dịch vụ tốt hơn hoặc đạt được cả hai mục tiêu đó. Điều này làm gia tăng giá trị mà người mua nhận được, trong đó vận tải có một vai trò quan trọng trong hệ thống Logistics Quốc tế nói chung và Logistics trong nước nói riêng.

Bài báo Thực trạng loại hình vận tải đa phương thức trong ngành dịch vụ logistics ở Việt nam (2017) [41] cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của quá trình vận tải với quá trình sản xuất và lưu thông trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics. Bài viết cũng chỉ ra hiện trạng vận tải đa phương thức cũng như các cơ sở hạ tầng giao thông phục vụ logistics của nước ta hiện nay. Qua đó đánh giá được những ưu, nhược điểm, các tồn tại hạn chế trong quá trình vận tải, xác định giải pháp nhằm đáp ứng thị trường vận tải hàng hóa trong nước và quốc tế cũng như sự phát triển kinh tế của quốc gia. Bài báo “Giải pháp phát triển vận tải đa phương thức và dịch vụ hậu cần ở Việt Nam” của ThS.

Trần Huy Bình (2019) [46] nêu tổng quan về đặc điểm và thực trạng phát triển VTĐPT và dịch vụ hậu cần của Việt nam chủ yếu trên phương diện xuất nhập khẩu hàng hóa. Từ đó, đề xuất một số giải pháp cho phát triển hệ thống. Một trong các nghiên cứu lớn về hệ thống giao thông vận tải toàn quốc là chương trình “Nghiên cứu tổng thể về phát triển giao thông Việt Nam - VITRANSS” của tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Nghiên cứu của Ngân hàng thế giới liên quan hỗ trợ Bộ GTVT về phát triển đa phương thức (2013). Báo cáo hỗ trợ kỹ thuật cho Bộ Giao thông Vận tải của ALG (2011) [49] có đề cập đến phương pháp xác định tổng chi phí logistics của Việt Nam, ứng dụng cho một số mặt hàng hóa điển hình.3 Các công trình nghiên cứu về quản lý Nhà nước đối với hoạt động vận tải Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp vận tải trong nước đã chủ động đầu tư công nghệ và đổi mới tổ chức quy trình vận tải nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh.

Về QLNN, hệ thống pháp luật trong VTHH đã liên tục được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với sự thay đổi môi trường kinh doanh. Về lý luận, quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực vận tải đa phương thức nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trong nước đề cập trên một số khía cạnh sau. Tác giả Bùi Minh Huấn nghiên cứu luận án “phương hướng biện pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với xây dựng giao thông” (1996) [9]. Trên cơ sở phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý xây dựng giao thông qua các thời kỳ trước và sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nghiên cứu đã làm rõ thực chất và nội dung QLNN đối với xây dựng giao thông theo quá trình đầu tư và các chủ thể kinh doanh xây dựng giao thông.

Nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại chủ yếu trong hoạt động của từng loại chủ thể kinh doanh, sử dụng công cụ QLNN và phân chia chức năng trong bộ máy quản lý. 11 Tuy nhiên, kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp chưa được đề cập sâu và hệ thống. Luận án Quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam của tác giả Tạ Văn Khoái (2009) [42] nghiên cứu chủ yếu QLNN đối với dự án đầu tư xây dựng từ NSNN trên các giai đoạn của chu trình dự án gồm năm nội dung: hoạch định, xây dựng khung pháp luật, ban hành và thể chế, tổ chức bộ máy và kiểm tra, kiểm soát. Luận án đã chỉ ra ba nhóm nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ bộ máy, cán bộ quản lý.

Luận án cũng đã đưa ra các khái niệm chung về công tác quản lý nhà nước, tuy nhiên chỉ tập trung đối với dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quản Lý Nhà Nước Về Vận Tải Đa Phương Thức Trong Hoạt Động Logistics Tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực vận tải đa phương thức, một yếu tố quan trọng trong hoạt động logistics hiện đại. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của chính phủ trong việc xây dựng khung pháp lý, cải thiện hạ tầng và tối ưu hóa quy trình vận tải, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động logistics tại Việt Nam. Độc giả sẽ nhận thấy những lợi ích rõ rệt từ việc áp dụng các chính sách quản lý hiệu quả, giúp tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững cho ngành logistics.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước trong lĩnh vực logistics, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn quản lý nhà nước về logistics cảng biển ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về logistics tại một trong những cảng biển lớn nhất Việt Nam. Ngoài ra, tài liệu Quản lý nhà nước đối với dịch vụ logistics ở cảng Hải Phòng cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các thách thức và giải pháp trong quản lý dịch vụ logistics tại cảng Hải Phòng. Những tài liệu này sẽ là nguồn thông tin quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực logistics và quản lý nhà nước tại Việt Nam.