CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và Quản lý nhà nước Thuật ngữ quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề và các công trình nghiên cứu khác nhau. Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình hoạt động xã hội.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý. Theo Mary Follet, “quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”[12, tr.
Kootz và O’Donnell định nghĩa “quản lý là việc thiết lập và duy trì môi trường để các cá nhân làm việc với nhau nhằm đạt được các mục tiêu với hiệu quả và hiệu suất cao”[12, tr. Donnelly, Gibson, và Ivancevic cho rằng “quản lý là quá trình do một hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp hoạt động của những người khác để đạt được những thành quả mà một người không thể đạt được’[12, tr. Kreiner và Kinicki (2001) định nghĩa “quản lý là quá trình làm việc với và thông qua những người khác để đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả và đạo đức, trong môi trường biến động” [12, tr. Ở Việt Nam với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định.
11 Quản lý bao gồm: (i) Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức; (ii)Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội; (iii) Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau; (iv) Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Thuật ngữ “quản lý nhà nước” có thể hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đặt ra.
Nói cách khác, QLNN là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng các văn bản quy định của pháp luật tới các đối tượng quản lý, nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước nhằm mục đích hiện thực hóa những mục tiêu mà nhà nước xác định khi thực hiện vai trò và hoạt động QLNN của mình cho từng lĩnh vực cụ thể. Theo Học viện Hành chính Quốc gia thì: “QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [13, tr.47] “QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [13, tr.35] Theo quan điểm của Bộ Nội vụ thì “QLNN là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá 12 nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước"”[6, tr. Như vậy có thể hiểu QLNN là sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước. Theo nghĩa rộng: QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp: QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp.Trong đề tài luận văn này tác giả tiếp cận nội dung nghiên cứu về QLNN đối với văn hóa ở góc độ hẹp là hoạt động QLNN của cơ quan hành pháp về QLNN (hệ thống Chính phủ và chính quyền địa phương). Theo đó quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân 1. Văn hóa và quản lý nhà nước về văn hóa Năm 1988, UNESCO phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa (1988 - 1997), ông Federico Mayor (nguyên Tổng Giám đốc UNESCO) đã đưa ra khái niệm: “Văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành tạo nên hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [36] 13 Ở Việt Nam, văn hóa được nhận thức khá cơ bản.
Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống loài người, mới sáng tạo và phát minh ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng khác. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [22, tr. Văn hóa chính là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Như vậy, có thể hiểu văn hóa là hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, thể hiện hành vi, trình độ ứng xử đối với môi trường tự nhiên và xã hội, tạo ra những chuẩn mực, những giá trị làm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người nhằm vươn tới cái đẹp chân - thiện - mỹ. QLNN về văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của Nhà nước bằng hệ thống pháp luật và bộ máy của mình, nhằm phát triển văn hóa, điều chỉnh hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực văn hóa và liên quan, với mục đích giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về văn hóa Xuất phát từ vai trò của văn hóa đối với đời sống xã hội. QLNN về văn hóa nói chung, QLNN về văn hóa trên địa bàn huyện có vai trò rất quan trọng.
Cụ thể như sau: 14 Thứ nhất, QLNN về văn hóa có vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa. QLNN về văn hóa sẽ góp phần định hướng, điều chỉnh sự phát triển của văn hóa quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng, từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa. Bên cạnh đó QLNN về văn hóa trong các lĩnh vực, địa bàn, nhóm dân cư cụ thể sẽ giúp kiểm soát sự tùy tiện, sai lệch trong khi thực thi các cơ chế, chính sách của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa. Thứ hai, QLNN về văn hóa góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của huyện Trong nền văn hóa của nước ta, sự tiên tiến thể hiện giá trị tiến bộ, trong đó, cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội.
Do đó, việc QLNN về văn hóa phải hướng đến việc phát huy các giá trị tiên tiến đó của văn hóa dân tộc. Mặt khác, bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước; đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong cuộc sống; dũng cảm, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Thứ ba, QLNN về văn hóa góp phần tạo động lực và tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội.