CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI 1. Những khái niệm cơ bản 1. Trật tự an toàn xã hội Trong một số tài liệu, từ điển, bài viết… thuật ngữ “trật tự an toàn xã hội” được hiểu một cách phổ biến là sự hoạt động ổn định hài hòa của các thành phần xã hội trong cơ cấu xã hội; trật tự xã hội nhằm duy trì sự phát triển xã hội và cơ chế bảo đảm tính trật tự xã hội là các thiết chế xã hội. Trật tự xã hội biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội, tính chuẩn mực của các hành động xã hội.
Nhờ trật tự xã hội mà hệ thống xã hội đạt được sự ổn định, cho phép nó hoạt động một cách có hiệu quả dưới sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài. Cũng có tác giả tách thuật ngữ “trật tự an toàn” thành hai vấn đề riêng biệt là “trật tự” và “an toàn”. Chẳng hạn: “trật tự là tình trạng ổn định, có thứ bậc trên dưới, trước sau. An toàn là yên ổn trọn vẹn, yên ổn hẳn, không sợ tai nạn” [26, Tr 16].
Trật tự xã hội còn được hiểu là: Trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các quy tắc, quy phạm nhất định ở những nơi công cộng mà mọi người phải tuân theo. Trật tự xã hội là một mặt của trật tự an toàn xã hội và có nội dung bao gồm những quy định chung về trật tự, vệ sinh, văn hóa; sự tuân thủ những quy định của pháp luật và phong tục, tập quán, sinh hoạt được mọi người thừa nhận; tình trạng yên ổn, có trật tự, tôn trọng lẫn nhau trong lao động, sinh hoạt, nghỉ ngơi của mọi người. Như vậy, nói đến trật tự an toàn xã hội là nói đến tình trạng (trạng thái) ổn định, có trật tự, kỷ cương của xã hội. Trật tự, kỷ cương đó được xác lập trên cơ sở các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (được gọi là những quy phạm pháp luật) và những giá trị xã hội, chuẩn mực đạo đức truyền thống được mọi 8 người trong xã hội thừa nhận, tôn trọng, tuân thủ và nhờ đó mà mọi người có được cuộc sống yên ổn.
Nói cách khác: Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội có trật tự, kỷ cương, trong đó mọi người có cuộc sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định. Dưới góc độ đảm bảo ANTT, khái niệm trật tự an toàn xã hội được định nghĩa như sau: Là trạng thái xã hội bình yên trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lý xác định. Đấu tranh giữ gìn trật tự an toàn xã hội bao gồm: giữ gìn trật tự nơi công cộng; đảm bảo trật tự an toàn giao thông; phòng ngừa tai nạn; bài trừ tệ nạn xã hội; bảo vệ môi trường. Bảo vệ trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân.
Trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt và có chức năng tham mưu, hướng dẫn và trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự công cộng, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, tham gia phòng ngừa tai nạn, bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ môi trường. Dù đứng ở góc độ nghiên cứu nào, chúng ta cũng thấy có sự thống nhất trong đánh giá về nội hàm của khái niệm trật tự an toàn xã hội, điều đó được thể hiện trên những dấu hiệu căn bản sau: - Đó là một trạng thái trật tự, nề nếp, kỷ cương, bình yên của xã hội. - Trạng thái này chỉ đạt tới độ vững chắc khi được thiết lập trên cơ sở sự tự giác tuân thủ quy phạm pháp luật, đạo đức của mọi người trong xã hội. - Là kết quả tổng hợp của công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội; công tác quản lý, bảo vệ, gìn giữ trật tự, an toàn trên nhiều llĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Trật tự an toàn xã hội là trạng thái xã hội bình yên, trong đó mọi người được sống yên ổn trên cơ sở các quy phạm pháp luật, các quy tắc và chuẩn mực đạo đức, pháp lí xác định. Giữ gìn trật tự an toàn xã hội là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội. 9 Có nhiều quan điểm về “trật tự an toàn xã hội” đều có những ưu điểm nhất định. Tuy nhiên các quan điểm này không tránh khỏi những hạn chế khi xác định nội hàm, khách thể và phương pháp điều chỉnh.
Để có khái niệm TTATXH một cách chính xác, có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn, xuất phát từ 3 căn cứ sau: Thứ nhất, trật tự an toàn xã hội là sản phẩm tất yếu của xã hội có Nhà nước. Trong tất cả các kiểu Nhà nước đều hình thành và tồn tại một trật tự an toàn xã hội của mình nhằm bảo vệ Nhà nước và xã hội đó. Vì vậy, khái niệm trật tự an toàn xã hội phải phản ánh được bản chất của Nhà nước của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang xây dựng. Thứ hai, TTATXH còn phải được quan niệm như là kết quả của trạng thái xã hội ổn định vững vàng của Nhà nước và hệ thống chính trị, trong đó quyền của công dân được bảo vệ và tôn trọng.
Thứ ba, trật tự an toàn xã hội được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật, đạo đức, chính trị và bằng phương pháp giáo dục thuyết phục, cưỡng chế Nhà nước, trong đó quy phạm pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành trật tự đó. Tác giả thống nhất khái niệm thuật ngữ an toàn xã hội theo quan niệm sau: “Trật tự an toàn xã hội là trạng thái của các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của nhà nước và các chuẩn mực đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của mỗi quốc gia, nhờ đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có kỉ cương, mọi lợi ích chính đáng được đảm bảo không bị xâm hại” [38, tr 14]. Quản lý nhà nước về trật tự an toàn xã hội 1. Các khái niệm - Quản lý Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Mỗi ngành khoa học nghiên cứu về quản lý từ góc độ riêng của mình và đưa ra định nghĩa về quản lý. Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho hệ thống hay quá 10 trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước. Vấn đề mà chúng ta quan tâm nghiên cứu là quản lý xã hội (quản lý nhà nước, quản lý của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…. Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức của người.
Những cá nhân hay tổ chức của con người phải là những chủ thể đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm liên kết, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý. Khách thể của quản lý là hành vi, hoạt động của con người và các quá trình xã hội nhằm hướng tới trật tự quản lý. Trật tự này được quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy định bởi nhiều loại quy phạm xã hội khác nhau như quy phạm tập quán, quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo, quy phạm pháp luật. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục đích đề ra.
Như vậy: - Quản lý xuất hiện ở bất kỳ đâu, khi nào nếu có ở đó và lúc đó có hoạt động chung của con người. - Quản lý là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. - Mục đích và nhiệm vụ của quản lý và điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục đích đã định trước. - Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy.
- Quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là một quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội. Các – Mác cho rằng quản lý xã hội là một 11 chức năng đặc biệt nảy sinh, trước hết là chính bản chất của quá trình lao động xã hội, ông viết: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” [5, Tr 342]. Sau này ông còn nói: “Lao động giám sát và quản lý ở tất cả những nơi mà hoạt động sản xuất trực tiếp có hình thức của một quá trình phối hợp mang tính xã hội, chứ không phải là lao động riêng rẽ của những người sản xuất độc lập” [6, Tr 432].
“Quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước” [37, Tr5]. Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước. Như vậy, tất cả các cơ quan nhà nước đều thực hiện chức năng quản lý nhà nước.