Tổng quan về luận án
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Quang Huy (2022) tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh với đề tài "Vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An hiện nay" (Mã số: 922 90 02, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Trần Văn Phòng) tiếp cận một trong những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất của quản trị công và triết học chính trị tại Việt Nam. Bối cảnh khoa học của công trình khởi nguồn từ quá trình chuyển đổi thể chế sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (kèm theo Nghị định số 162/2017/NĐ-CP), đặt ra yêu cầu tái cấu trúc toàn diện nhận thức lý luận và phương thức thực thi quyền lực hành chính nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được nhận diện là sự thiếu vắng một công trình liên ngành triết học tôn giáo - khoa học quản lý nhà nước khảo sát một cách hệ thống, toàn diện thực trạng quản lý nhà nước (QLNN) về tôn giáo tại một địa bàn chiến lược, có cơ cấu tôn giáo phức tạp và nhạy cảm bậc nhất cả nước như Nghệ An. Trước đây, các công trình của Hà Ngọc Anh (2018) hay Phạm Tiến Dũng (2020) chủ yếu tiếp cận theo góc độ khoa học quản lý thuần túy hoặc giới hạn tại đô thị đặc thù (Hà Nội); các nghiên cứu của Phan Đình Sửu (2017) chỉ khu biệt ở góc độ an ninh trật tự. Đề tài xác lập hệ thống ba câu hỏi nghiên cứu và ba giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi 1 (Lý luận): Bản chất, nội hàm, chủ thể và phương thức QLNN về tôn giáo theo nghĩa hẹp trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định như thế nào?
- Giả thuyết 1: QLNN về tôn giáo là một dạng quản lý công quyền lưỡng diện: vừa thực thi quyền lực hành pháp chuẩn hóa hành vi công vụ, vừa định hướng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho thể nhân, pháp nhân tôn giáo theo pháp luật.
- Câu hỏi 2 (Thực trạng): Thực trạng vận hành của chủ thể, nội dung và phương thức QLNN về tôn giáo tại tỉnh Nghệ An giai đoạn từ năm 2016 đến nay bộc lộ những thành tựu và điểm nghẽn xung đột nào?
- Giả thuyết 2: Sự bất cập về năng lực chuyên trách của đội ngũ cán bộ cơ sở và sự thiếu đồng bộ trong phối hợp liên ngành là nguyên nhân căn bản dẫn đến các điểm nóng tranh chấp đất đai và khiếu kiện tôn giáo kéo dài.
- Câu hỏi 3 (Giải pháp): Những xu hướng vận động tôn giáo nào sẽ chi phối địa bàn và hệ giải pháp đột phá nào có thể nâng cao hiệu lực quản lý?
- Giả thuyết 3: Sự kết hợp biện chứng giữa phương thức đối thoại tôn giáo, giải quyết dứt điểm các "vụ việc điểm mẫu mực" về tranh chấp đất đai và kiện toàn vị trí việc làm chuyên trách cấp xã sẽ tạo chuyển biến căn bản trong ổn định chính trị - xã hội địa phương.
Khung lý thuyết của công trình được định hình dựa trên thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của C.Mác - V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và tự do tín ngưỡng, cùng lý thuyết nhà nước thế tục trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ địa bàn tỉnh Nghệ An – tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất Việt Nam (16.490 km²), nơi hội tụ quy mô tín đồ lớn với khoảng 292.000 giáo dân Công giáo (thuộc Giáo phận Vinh) và khoảng 95.000 Phật tử, cùng các hệ phái Tin lành đang phát triển nhanh. Khảo sát thực chứng được tiến hành trên mẫu quy mô chuẩn N = 800 phiếu hỏi thuộc 04 nhóm khách thể chuyên biệt, mang lại ý nghĩa lý luận sâu sắc và giá trị ứng dụng thực tiễn cao đối với việc hoạch định chính sách tôn giáo quốc gia.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu học thuật được tác giả phân tích có hệ thống qua ba mạch nghiên cứu chính trong và ngoài nước:
Mạch thứ nhất là dòng nghiên cứu lý luận nền tảng về quan hệ nhà nước - tôn giáo. Các học giả quốc tế như Paul S. Rowe (2012) trong Religion and Global Politics đã phân tích vai trò của tôn giáo trong việc định hình trật tự chính trị toàn cầu; Alicja Curanović (2012) khảo sát tác động của Giáo hội Chính thống giáo đối với ngoại giao Nga; George Ehrhardt và cộng sự (2014) làm rõ cơ chế can dự chính trị của phong trào Soka Gakkai thông qua đảng Komeito tại Nhật Bản; Max Deeg và Bernhard Scheid (2015) phân tích sự tương tác giữa tôn giáo và chính sách nhà nước tại Trung Quốc. Tại Việt Nam, các công trình kinh điển của Đỗ Quang Hưng (2001, 2015), Nguyễn Hồng Dương (2014), Ngô Hữu Thảo (2010), Nguyễn Đức Lữ (2013), Trung tâm nghiên cứu tín ngưỡng và tôn giáo (2010), Nguyễn Minh Khải (2016), Đỗ Lan Hiền (2013, 2017) đã luận giải sâu sắc quan điểm Mác-xít và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất tôn giáo và bản chất nhà nước thế tục.
Mạch thứ hai tập trung vào thực trạng và công tác QLNN về tôn giáo. Nhóm tác giả Hà Ngọc Anh (2018), Phạm Tiến Dũng (2020), Ban Tôn giáo Chính phủ (2021), Phan Đình Sửu (2017), Lê Bá Trình (2014), Vũ Chiến Thắng (2020, 2021) đã mổ xẻ các khía cạnh tổ chức bộ máy, thanh tra chuyên ngành và xử lý vi phạm pháp luật.
Mạch thứ ba là các nghiên cứu dự báo và giải pháp của Chu Văn Tuấn (2020), Nguyễn Nghị Thanh (2018), Nguyễn Thanh Xuân (2012, 2017), nhấn mạnh đến xu hướng thế tục hóa, đa dạng hóa và yêu cầu chuẩn hóa cán bộ công chức ngành tôn giáo.
Trong y văn tồn tại hai cuộc tranh luận lý thuyết nổi bật:
- Tranh luận 1: Mô hình quản lý can thiệp hành chính đối kháng với mô hình quản trị tạo thuận lợi (Facilitative Governance). Một số quan điểm thực hành coi QLNN về tôn giáo chủ yếu là công cụ kiểm soát an ninh trật tự, giám sát hoạt động của chức sắc, tín đồ. Ngược lại, quan điểm hiện đại dựa trên Luật 2016 coi QLNN là sự công nhận, bảo hộ và phát huy nguồn lực tôn giáo phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
- Tranh luận 2: Phân định phạm vi thẩm quyền thế tục và hoạt động tôn giáo. Khảo cứu so sánh với Jonathan Fox (2015) khi phân tích chuỗi thời gian 111 loại chính sách tôn giáo tại 177 quốc gia cho thấy mọi nhà nước thế tục đều duy trì mức độ điều chỉnh luật pháp nhất định để duy trì trật tự chính trị. Tương tự, David T. Smith (2013) trong Religious Persecution and Political Order in the United States đã chứng minh ngay cả các thể chế phương Tây vẫn can thiệp và kiểm soát chặt chẽ các nhóm tôn giáo thiểu số nếu đe dọa trật tự xã hội.
Nghiên cứu của Đỗ Quang Huy định vị chính xác khoảng trống này bằng cách khẳng định QLNN về tôn giáo tại Việt Nam vừa mang tính quy luật phổ quát của nhà nước pháp quyền, vừa mang tính đặc thù của thể chế chính trị - xã hội chủ nghĩa, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa thực thi quyền lực công và quyền tự do tâm linh.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Công trình mở rộng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất xã hội của tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. C.Mác từng chỉ rõ:
“Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình một lần nữa” [55, tr. 569].
Đồng thời, V.I.Lênin nhấn mạnh tính tất yếu phải giải quyết vấn đề tôn giáo bằng khoa học và pháp luật, cảnh báo:
“Khắp nơi bọn tư bản phản động đã chú trọng, và ở nước ta hiện nay chúng cũng bắt đầu chú trọng khêu lên những sự hằn thù tôn giáo, để làm cho quần chúng chú ý về phía đó, khiến cho họ không để ý đến vấn đề chính trị và kinh tế thật sự quan trọng và chủ yếu” [43, tr. 84].
Đóng góp lý thuyết mang tính đột phá của đề tài là xác lập định nghĩa khoa học về QLNN về tôn giáo theo nghĩa hẹp dưới góc độ thực thi quyền lực hành pháp:
- Khái niệm: QLNN về tôn giáo theo nghĩa hẹp là hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (từ Chính phủ đến UBND các cấp), sử dụng quyền lực công theo quy định của pháp luật nhằm tác động, điều chỉnh, định hướng các hành vi và quá trình tôn giáo diễn ra đúng quỹ đạo pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và lợi ích chung của cộng đồng.
- Sự chuyển dịch mô hình (Paradigm Shift): Chuyển đổi căn bản từ tư duy "quản lý một chiều" (nhà nước giám sát chức sắc, tín đồ) sang "quản trị tương tác lưỡng diện" (nhà nước vừa điều chỉnh các chủ thể được trao quyền thực thi công vụ, vừa định hướng hành vi của các thể nhân, pháp nhân tôn giáo). Nghiên cứu khẳng định đối tượng chịu sự QLNN bao gồm cả chính các cơ quan, cán bộ công quyền trong việc đảm bảo tính nghiêm minh và tôn trọng quyền con người.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của đề tài tích hợp ba lý thuyết nền tảng:
- Học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội và Mối quan hệ Biện chứng giữa Cơ sở hạ tầng và Kiến trúc thượng tầng (Karl Marx, Friedrich Engels).
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước thế tục (Hồ Chí Minh; Đỗ Quang Hưng, 2015).
- Lý thuyết Quản trị công và Thực thi chính sách (Public Policy Implementation Theory).
Thay vì áp dụng cơ học 07 nội dung quản lý theo Điều 61 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, tác giả đã tái cấu trúc và cô đọng thành Khung phân tích 04 trụ cột cốt lõi phù hợp với thực tiễn tỉnh Nghệ An:
- Trụ cột 1: Xây dựng chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực thi QLNN về tôn giáo.
- Trụ cột 2: Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
- Trụ cột 3: Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật tôn giáo.
- Trụ cột 4: Quản lý nhà nước đối với các hoạt động quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: áp dụng trong bối cảnh không gian hành chính tỉnh Nghệ An, thời gian từ sau năm 2016 đến giai đoạn phục hồi hậu đại dịch Covid-19, với sự hiện diện chủ đạo của Công giáo và Phật giáo.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng lập trường bản thể luận duy vật biện chứng kết hợp với nhận thức luận thực chứng phê phán (Critical Realism). Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp (Mixed-methods Design) kết hợp chặt chẽ giữa phân tích định tính văn bản thể chế (Doctrinal & Policy Analysis) và điều tra định lượng bằng bảng hỏi thực địa (Empirical Survey).
Thiết kế đa cấp độ (Multi-level Design) được triển khai qua 4 tầng nấc quản lý:
- Cấp tỉnh (UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Ban Tôn giáo tỉnh).
- Cấp huyện (UBND cấp huyện, Phòng Nội vụ).
- Cấp xã/phường/thị trấn (UBND cấp xã, công chức văn phòng/tư pháp kiêm nhiệm).
- Cấp cơ sở cộng đồng (xóm đạo, giáo xứ, giáo họ, chùa chiền, khu dân cư).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên có chủ đích (Stratified Purposive Sampling) được thực hiện với các tiêu chí bao hàm/loại trừ nghiêm ngặt:
- Địa bàn khảo sát: Các huyện/thị trọng điểm về tôn giáo tại Nghệ An (TP. Vinh, Nghi Lộc, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Nam Đàn).
- Công cụ thu thập: Phiếu hỏi cấu trúc chuẩn hóa gồm 3 phân nhóm thang đo: (a) Đánh giá nhận thức thể chế và năng lực chủ thể quản lý; (b) Đánh giá hiệu lực 4 nội dung quản lý; (c) Đánh giá tính phù hợp của phương thức quản lý (thuyết phục - hành chính - đối thoại).
- Tam giác hóa dữ liệu (Data & Method Triangulation): Kết hợp dữ liệu khảo sát N=800 với dữ liệu thống kê hành chính từ 21 đơn vị cấp huyện của tỉnh Nghệ An, biên bản thanh tra giải quyết khiếu nại đất đai giai đoạn 2016-2021, và các cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý tôn giáo.
Data và phân tích
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm phân tích thống kê chuyên ngành (SPSS kết hợp thống kê mô tả, kiểm định tương quan chéo Cross-tabulation và phân tích tần số). Các chỉ số độ tin cậy và tính giá trị nội tại được kiểm soát nghiêm ngặt. Phân tích thống kê mô tả làm nổi bật cơ cấu tổ chức bộ máy và chất lượng nhân sự:
- Cơ cấu chuyên trách tại 21 huyện/thành/thị: Mỗi Phòng Nội vụ cấp huyện chỉ bố trí từ 1 - 2 cán bộ phụ trách công tác tôn giáo (Trưởng/Phó phòng phụ trách chung và 01 chuyên viên theo dõi).
- Cấp xã (460 xã, phường, thị trấn): 100% không có biên chế chuyên trách tôn giáo mà do công chức Tư pháp - Hộ tịch hoặc Văn phòng - Thống kê kiêm nhiệm, tạo nên điểm nghẽn nghiêm trọng về năng lực xử lý vụ việc tại chỗ.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Qua phân tích định tính và xử lý dữ liệu định lượng, nghiên cứu chỉ ra 5 phát hiện cốt lõi mang tính bước ngoặt:
Thứ nhất, tồn tại độ trễ và sự mất cân xứng lớn giữa yêu cầu quản lý thực tế với năng lực thể chế của bộ máy cơ sở. Dữ liệu thực chứng chỉ ra rằng trên 68% công chức kiêm nhiệm cấp xã tại các địa bàn trọng điểm tôn giáo chưa qua đào tạo chuyên sâu về tôn giáo học và kỹ năng hành chính tôn giáo, dẫn đến lúng túng khi xử lý các thủ tục cấp phép sinh hoạt tôn giáo tập trung hoặc cải tạo cơ sở thờ tự.
Thứ tư, phương thức "vận động, giáo dục, thuyết phục" đạt hiệu quả vượt trội so với các biện pháp mệnh lệnh hành chính thuần túy. Khi đánh giá về phương thức xử lý các bất đồng tôn giáo, trên 78.5% ý kiến từ nhóm chức sắc và 82% ý kiến từ cán bộ quản lý khẳng định cơ chế đối thoại trực tiếp, tôn trọng nhu cầu tín ngưỡng chính đáng là nhân tố quyết định hạ nhiệt các căng thẳng xã hội. Điều này hiện thực hóa sâu sắc quy định tại Điều 24 Hiến pháp 2013:
“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [63].
Thứ hai, điểm nóng xung đột gay gắt nhất tập trung vào vấn đề quản lý đất đai và xây dựng cơ sở thờ tự trái phép. Quá trình lịch sử để lại nhiều diện tích đất đai tôn giáo chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có tranh chấp ranh giới giữa cơ sở tôn giáo với đất công, đất lâm nghiệp. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh các vụ việc khiếu kiện đông người.
Thứ ba, xu hướng quốc tế hóa và tác động của không gian mạng làm phức tạp hóa công tác quản lý quan hệ quốc tế. Các tổ chức tôn giáo tại Nghệ An mở rộng liên kết tài chính, nhân sự với các tổ chức tôn giáo hải ngoại; sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới qua Internet đòi hỏi các công cụ giám sát kỹ thuật số hiện đại.
Thứ năm, xu hướng thế tục hóa song hành cùng sự đa dạng hóa tôn giáo tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền Tây Nghệ An. Đời sống tôn giáo có xu hướng thâm nhập sâu vào các hoạt động thiện nguyện, y tế, giáo dục, đòi hỏi nhà nước phải hoàn thiện hành lang pháp lý để phát huy nguồn lực xã hội này.
Implications đa chiều
Về mặt lý luận: Khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, làm sáng rõ mối quan hệ giữa nhà nước thế tục và các tổ chức tôn giáo, bổ sung luận cứ khẳng định tôn giáo là nguồn lực phát triển xã hội thay vì chỉ nhìn nhận dưới góc độ tiêu cực.
Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ khảo sát 4 nhóm chủ thể có thể nhân rộng để đánh giá hiệu quả QLNN về tôn giáo tại các tỉnh trọng điểm khác như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nam Định hay Đồng Nai.
Về mặt chính sách và thực tiễn:
- Đề xuất mô hình giải quyết "điểm mẫu mực": Đối với các vụ việc tranh chấp đất đai kéo dài, tỉnh Nghệ An cần chọn một vụ việc điển hình để chỉ đạo phối hợp liên ngành (Ban Tôn giáo, Sở TN&MT, Sở Xây dựng, Công an tỉnh, Viện Kiểm sát, Tòa án) giải quyết dứt điểm từ khâu thanh tra, đối thoại, hỗ trợ pháp lý đến cưỡng chế nghiêm minh, tạo tiền lệ xử lý chuẩn mực cho toàn tỉnh.
- Hoàn thiện quy hoạch đất dành cho tôn giáo: Tích hợp quy hoạch sử dụng đất tôn giáo vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
- Chuẩn hóa vị trí việc làm cán bộ tôn giáo: Kiến nghị Bộ Nội vụ quy định rõ danh mục vị trí việc làm chuyên trách hoặc phân công cố định công chức phụ trách tôn giáo cấp xã tại các địa bàn có từ 1.000 tín đồ trở lên.
Limitations và Future Research
Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận 3 giới hạn:
- Giới hạn không gian và tính đại diện: Nghiên cứu thực hiện chủ yếu tại tỉnh Nghệ An; mặc dù có tính tương đồng cao với vùng Bắc Trung Bộ, nhưng các mô hình tổ chức tôn giáo đặc thù phía Nam (như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo) chưa được bao hàm trong mẫu nghiên cứu này.
- Giới hạn dữ liệu thời gian: Giai đoạn thu thập dữ liệu (2018 - 2021) chịu ảnh hưởng của các đợt giãn cách xã hội do đại dịch Covid-19, dẫn đến một số sinh hoạt tôn giáo tập trung bị gián đoạn, ảnh hưởng nhất định đến việc đo lường tần suất thanh kiểm tra tại chỗ.
- Độ mở của dữ liệu an ninh: Do tính chất bảo mật quốc gia, một số thông tin chuyên sâu về âm mưu lợi dụng tôn giáo của các tổ chức phản động lưu vong chỉ được phân tích ở mức độ khái quát hóa lý luận.
Chương trình nghiên cứu 5-10 năm tới mở ra các hướng đi mới:
- Nghiên cứu so sánh xuyên vùng (Cross-regional Comparative Study) giữa mô hình quản trị tôn giáo vùng Bắc Trung Bộ và vùng Tây Nguyên/Tây Nam Bộ.
- Đánh giá tác động của không gian mạng và chuyển đổi số đối với hoạt động tôn giáo ảo (Cyber-religion / Digital Religion) và yêu cầu thiết lập khung pháp lý quản trị tôn giáo trên Internet.
- Phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội từ nguồn lực từ thiện, giáo dục và y tế của các tổ chức tôn giáo trong cấu trúc an sinh xã hội quốc gia.
Tác động và ảnh hưởng
Ảnh hưởng học thuật: Công trình cung cấp tài liệu tham khảo thiết yếu cho hệ thống các trường chính trị, học viện đào tạo cán bộ lãnh đạo quản lý; dự kiến tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về luật tôn giáo và triết học chính trị tại Việt Nam.
Tác động chính sách: Các khuyến nghị về quy trình xử lý đất đai tôn giáo và kiện toàn bộ máy đã được tham vấn trực tiếp cho Ban Dân vận Tỉnh ủy Nghệ An, Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An và Ban Tôn giáo Chính phủ trong quá trình sơ kết 5 năm thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016.
Lợi ích xã hội: Góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giải tỏa các điểm nghẽn tâm lý giữa cộng đồng giáo dân và chính quyền cơ sở, thúc đẩy phương châm "Kính Chúa yêu nước", "Sống phúc âm giữa lòng dân tộc" và "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên ngành Triết học, Tôn giáo học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước: Tiếp cận hệ thống dữ liệu thực chứng và khung lý luận đã được chuẩn hóa.
- Cán bộ lãnh đạo, công chức trực tiếp làm công tác tôn giáo các cấp: Nắm vững quy trình 4 nội dung quản lý, quy chuẩn đối thoại và phương thức xử lý khủng hoảng truyền thông, tranh chấp đất đai tôn giáo.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Quốc hội và Chính phủ: Có thêm luận cứ thực tiễn để sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các nghị định hướng dẫn thi hành.
- Các vị chức sắc, chức việc và tổ chức tôn giáo: Hiểu rõ quyền hạn, nghĩa vụ pháp lý, từ đó nâng cao tính tự giác chấp hành pháp luật trong tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đó là việc tái định nghĩa và hệ thống hóa bản chất của QLNN về tôn giáo theo nghĩa hẹp từ góc độ thực thi quyền lực hành pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xác lập tính lưỡng diện của công tác quản lý: vừa kiểm soát, chuẩn hóa hành vi công vụ của các cơ quan công quyền, vừa bảo hộ, định hướng quyền tự do tôn giáo của tổ chức, tín đồ.
2. Đột phá phương pháp luận so với các công trình trước đây?
So với nghiên cứu định tính thuần túy của Hà Ngọc Anh (2018) hay nghiên cứu an ninh của Phan Đình Sửu (2017), luận án đã triển khai mẫu điều tra định lượng quy mô N = 800 được phân tầng chặt chẽ qua 4 nhóm khách thể (Lãnh đạo, Chuyên viên, Chức sắc/Tín đồ, Quần chúng), xử lý tam giác hóa dữ liệu đa nguồn kết hợp thống kê SPSS.
3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất là gì?
Phương thức mệnh lệnh hành chính đơn thuần có tỷ lệ thất bại và gây phản ứng tiêu cực cao nhất tại các điểm nóng tôn giáo; trong khi phương thức đối thoại tôn giáo kết hợp giải quyết bài bản một "vụ việc điểm mẫu mực" về đất đai có sức lan tỏa và tạo sự đồng thuận xã hội đạt trên 80%.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Hệ thống bảng hỏi 800 phiếu, cơ cấu 4 nhóm biến số độc lập/phụ thuộc và quy trình lấy mẫu phân tầng 4 cấp quản lý được mô tả chi tiết, cho phép các nhà nghiên cứu khác áp dụng hoàn toàn trên các địa bàn có đặc thù tương tự.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo thế nào?
Tập trung vào ba trục chính: (1) Quản trị rủi ro tôn giáo phi truyền thống trên không gian mạng; (2) Thể chế hóa nguồn lực tài chính, y tế, giáo dục của tôn giáo vào kinh tế tuần hoàn; (3) Ngoại giao tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện.
Kết luận
Công trình của tác giả Đỗ Quang Huy xác lập 6 đóng góp học thuật và thực tiễn cụ thể:
- Hoàn thiện hệ thống lý luận triết học Mác-xít và khoa học quản trị về QLNN đối với tôn giáo trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tái cấu trúc chuẩn mực khung phân tích từ 07 nội dung luật định thành 04 trụ cột quản lý chuyên sâu, sát hợp với thực tiễn địa phương.
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh, chân thực về thực trạng đội ngũ cán bộ, thể chế và các điểm nghẽn tranh chấp đất đai tôn giáo tại tỉnh Nghệ An qua mẫu điều tra N = 800.
- Đề xuất giải pháp đột phá mang tính dẫn dắt: xây dựng mô hình giải quyết "vụ việc điểm mẫu mực" nhằm tháo gỡ triệt để các xung đột kéo dài.
- Kiến nghị chuẩn hóa vị trí việc làm chuyên trách công tác tôn giáo cấp xã, nâng cao hiệu lực thực thi công quyền ở cơ sở.
- Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về an ninh phi truyền thống, chuyển đổi số và quản trị tôn giáo trên không gian mạng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa.