CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI ĐUA, KHEN THƯỞNG TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về thi đua, khen thưởng 1. Thi đua Khái niệm thi đua Karl Mark là nhà triết học đầu tiên nghiên cứu một cách bài bản, khoa học về bản chất và nội dung của thi đua. Trong tác phẩm “Sự khốn cùng của triết học, trả lời cuốn “Triết học về sự khốn cùng” của ông Pru-đông”, Karl Mark đã khẳng định “mặc dù gây nhiều hậu quả nghiêm trọng nhưng cạnh tranh lại là động lực phát triển trong chế độ tư bản chủ nghĩa” [5].
Cùng quan điểm đó, Friedrich Engels cũng cho rằng trong quá trình cạnh tranh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ làm xuất hiện thi đua. Chế độ mới sẽ được ra đời và xây dựng dựa trên động cơ thúc đẩy của thi đua. Ông khẳng định “Thi đua nảy nở trong quá trình hợp tác lao động, trong hoạt động chung của con người, làm tăng thêm nghị lực riêng của từng cá nhân và cả cộng đồng, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển” [24, tr. Nhà lý luận chính trị người Nga - V.Lê-nin cũng nghiên cứu và đặc biệt nhấn mạnh đến thi đua.
Ông xem thi đua là việc được tạo nên bởi sự tất yếu và là nguồn tiềm năng to lớn, quý giá của chủ nghĩa xã hội“Chủ nghĩa xã hội không những không dập tắt thi đua, mà trái lại, lần đầu tiên, đã tạo ra khả năng áp dụng thi đua một cách thật sự rộng rãi, với một quy mô thật sự to lớn… Nhiệm vụ của chúng ta khi chính phủ xã hội chủ nghĩa đang cầm quyền, là phải tổ chức thi đua” [47, tr. Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm thi đua được định nghĩa như sau: “Thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực ra nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong chiến đấu, sản xuất, công tác hoặc học tập” [36, tr. Trong khái niệm này, thi đua mang tính đặc trưng của chế độ xã hội chủ nghĩa và được quyết định bởi 02 yếu tố đó là “cùng nhau” thực hiện và mục tiêu là “thúc đẩy lẫn 10 nhau”. Như vậy, thi đua là hoạt động của mọi người cùng tiến hành với nhau và cần thiết để thúc đẩy lẫn nhau.
Trong Lời kêu gọi thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai. Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta, thì chúng ta phải đi mau. Vì vậy phải ra sức tham gia cuộc Thi đua yêu nước” [22, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy nghĩ về thi đua một cách đơn giản “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc làm khác với những công việc hàng ngày.
Thật ra công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ: Từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng nay ta thi đua làm ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn.
Mọi việc đều thi đua như vậy” [23, tr. Theo quan điểm trên, thi đua đã được ví như một công việc cụ thể mà ở đó cần tác động vào công việc nhất định để nó tốt hơn lên, có ích cho đất nước, lợi ích cho gia đình, làng xóm, xã hội và bản thân. Tại Khoản 1, Điều 3, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 giải: “thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [37]. Theo khái niệm trên thì thi đua là hoạt động mang tính tổ chức và mang tính tự nguyện chứ không phải là sự ép buộc.
Theo đó, nội dung tổ chức PTTĐ được thực hiện “phải gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, tổ chức và có tính khả thi, có chủ đề, tên gọi dễ nhớ, dễ tuyên truyền; nội dung bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ trọng tâm để đề ra chỉ tiêu, phương pháp thi đua cụ thể, thiết thực, phù hợp với điều kiện, khả năng tham gia của tập thể, cá nhân” [23, tr. Trong luận văn, tác giả sử dụng khái niệm thi đua theo Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003. Nguyên tắc thi đua Tại Khoản 1, Điều 6, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định việc thi đua được thực hiện theo 02 nguyên tắc sau đây:“Tự nguyện, tự giác, công khai” và “Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển”. 11 PTTĐ muốn đạt được kết quả tốt, ngoài việc đối tượng tham gia phải tự nguyện, tự giác thì việc công khai có ý nghĩa rất quan trọng.
Qua việc công khai sẽ thể hiện tính minh bạch, dân chủ vì vậy nguyên tắc công khai chính là cơ sở đảm bảo tính chính xác trong khen thưởng. Trong quá trình xây dựng và đổi mới, trước những thời cơ và thách thức khi tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, thi đua vẫn luôn là nhiệm vụ quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh để tạo thành phong trào quần chúng. Để đạt được kết quả, cần phải thực hiện nguyên tắc đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển. Hình thức tổ chức thi đua Khoản 1, Điều 15, Chương II, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 quy định 02 hình thức tổ chức thi đua là: “thi đua thường xuyên” và “thi đua theo đợt”.
Trong đó: - Thi đua thường xuyên: là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân để tổ chức phát động và thực hiện tốt công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tạo cơ sở vững chắc để tạo hiệu quả cho các PTTĐ. - Thi đua theo đợt: là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm hoặc một lĩnh vực cần tập trung trong khoảng thời gian nhất định để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Danh hiệu thi đua Tại Khoản 2, Điều 3, Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 định nghĩa “Danh hiệu thi đua là hình thức ghi nhận, biểu dương, tôn vinh cá nhân, tập thể có thành tích trong phong trào thi đua”.
Danh hiệu thi đua gồm: - Danh hiệu thi đua đối với cá nhân: Chiến sĩ thi đua toàn quốc; Chiến sĩ thi đua cấp bộ, ngành, tỉnh, đoàn thể trung ương; Chiến sĩ thi đua cơ sở và Lao động tiên tiến, Chiến sĩ tiên tiến. - Danh hiệu thi đua đối với tập thể: Cờ thi đua của Chính phủ; Cờ thi đua bộ, ban, ngành, tỉnh; Tập thể lao động xuất sắc và Đơn vị quyết thắng; Tập thể lao động 12 tiên tiến và đơn vị tiên tiến; thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương là thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa. - Danh hiệu thi đua đối với hộ gia đình: Gia đình văn hóa. Khen thưởng Khái niệm khen thưởng Trài dài suốt hàng ngàn năm lịch sử, khen thưởng đã ra đời và tồn từ lâu.
Việc khen thưởng được gắn liền với các hình thức thưởng hoặc phạt của Nhà nước. Ở chế độ phong kiến, khen thưởng đã được nhắc đến trong tác phẩm Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên như sau: “Khen thưởng người có công trong chiến trận; Khen thưởng người có công trong việc đi sứ; Khen thưởng người có công phò tá có công lao tài đức; Khen thưởng người tiến cử, người hiền tài; Khen thưởng người có lời tâu đúng; Khen thưởng người cấp dưới giữ đúng phép công, không vị nể người quyền quý cấp trên; Khen thưởng người có công làm thủy lợi; Khen thưởng người có tài văn chương; Khen thưởng người cao tuổi…” [33, tr. Từ những ghi chép của Ngô Sỹ Liên, khen thưởng vào thời điểm này gắn liền với những công trạng đóng góp cho triều đình, đất nước, đề cao tinh thần yêu nước sâu sắc của dân tộc Việt Nam là một khẳng định hoàn toàn đúng đắn. Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi cũng đề cập đến khen thưởng, với Ức Trai thì khen thưởng được ví như thước đo cho sự phát triển của một Nhà nước “Một nhà nước mà thưởng phạt nghiêm minh, kịp thời là nhà nước vững mạnh.
Nhà nước nào phạt nhiều hơn thưởng là nhà nước đang suy tàn. Nhà nước nào thưởng nhiều hơn phạt là nhà nước phồn vinh” [33, tr.131] Khi đất nước đã độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến việc khen thưởng. Với cương vị là Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người đã công bố Quốc lệnh quy định 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt cho “quân dân biết rõ những tội nên tránh, những việc nên làm”, với quan điểm “trong một nước thưởng, phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [23, tr. Ngoài ra, Người còn ban hành chỉ thị “Có công thì thưởng, có lỗi thì phạt, khen thưởng phải có tác dụng 13 giáo dục, động viên, nêu gương” [21, tr.
Do đó, khen thưởng còn là một chính sách hữu hiệu để ghi công, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. “Khen là sự nhận xét đánh giá tốt về một con người nào đó; tổ chức nào đó, về cái gì, việc gì đó với ý nghĩa hài lòng. Còn thưởng là tặng, cho bằng hiện vật hoặc tiền” [48, tr.497] là định nghĩa cơ bản về khen thưởng được nêu ra trong Từ điển Tiếng Việt. Như vậy, bản chất của khen thưởng thật ra hình thức ghi nhận công lao, thành tích của cơ quan có thẩm quyền đối với cá nhân hoặc tập thể.
Tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thi đua, khen thưởng năm 2003 đã định nghĩa “Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [37]. Từ định nghĩa trên, người lãnh đạo có thể rút ra một bài học đó là khi tiến hành khen thưởng phải có sự kết hợp giữa khen thưởng về mặt tinh thần và mặt vật chất. Tùy vào bối cảnh thực tại mà hai yếu tố này phải được kết hợp chặt chẽ mới có tác dụng động viên khuyến khích tập thể, cá nhân một cách toàn diện. Từ những cách tiếp cận trên, tác giả cho rằng “Khen thưởng là quyết định của cơ quan công quyền nhằm đánh giá thành tích của tổ chức, cá nhân nào đó bằng lợi ích tinh thần hoặc vật chất sao cho phù hợp với yêu cầu của bối cảnh, giai đoạn lịch sử”.