Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỂ DỤC THỂ THAO QUẦN CHÚNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm “Thể thao quần chúng” Thể dục, thể thao là những thuật ngữ mang tính chất xã hội. Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu khác nhau để có thể tìm ra những đặc điểm chung nhất cũng như quy luật trong các hoạt động này.
Chính vì vậy trên thế giới và tại Việt Nam, hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về TDTT và TTQC. Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên các khái niệm, định nghĩa nêu trên, có thể tham khảo một số khái niệm cơ bản như sau: Theo tác phẩm “Một số vân bản quy phạm pháp luật về thể dục thể thao” thì Thể dục: “Là tất cả những hoạt động của cơ thể nhằm nâng cao hoặc duy trì sự vừa vặn của cơ thể và sức khỏe nói chung” [22, tr. Thể dục có thể được thực hiện nhằm những mục đích khác nhau. Những mục đích này bao gồm đảm bảo về sức mạnh cơ bắp, hệ tim mạch, trau dồi kỹ năng thể thao, giảm và duy trì cân nặng và sở thích.
“Các bài tập thể dục đều đặn và thường xuyên nâng cao sức miễn dịch cơ thể và giúp ngăn ngừa các bệnh hiện đại như bệnh tim, hệ tuần hoàn, tiểu đường típ hai và béo phì. Nó còn nâng cao sức khỏe tinh thần, giúp ngăn chặn trầm cảm, giúp nâng cao tính lạc quan và còn là yếu tố làm tăng thêm sự hấp dẫn giới tính cá nhân hay hình ảnh cơ thể, cái mà luôn liên quan đến mức cao lòng tự trọng” [6, tr. Thể thao: “Là hoạt động thể chất hay kỹ năng dành cho mục đích giải trí, thi đấu, đạt đến vinh quang, rèn luyện bản thân, tăng cường sức khỏe”. Các môn thể thao đều kèm theo hoạt động thể chất, thi đấu, và luật lệ tính điểm 9 Thể dục thể thao: “Là một bộ phận của nền văn hoá xã hội, một loại hình hoạt động mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực (thể hiện cụ thể qua cách thức rèn luyện thân thể) nhằm tăng cường thể chất cho con người, nâng cao thành tích thể thao, góp phần làm phong phú sinh hoạt văn hoá và giáo dục con người phát triển cân đối, hợp lý” [22, tr.
Hoạt động thể dục thể thao quần chúng Hoạt động TDTTQC là việc tập luyện, vui chơi giải trí, thi đấu TT của các tầng lớp nhân dân nhằm thỏa mãn nhu cầu gìn giữ sức khỏe, tăng cường thể chất và tinh thần của bản thân và tham gia các sự kiện văn hóa - xã hội của cộng đồng. Hoạt động Thể thao quần chúng được xác định: “là hoạt động tập luyện, biểu diễn và thi đấu TDTT mang tính tự nguyện của đông đảo nhân dân. Nhà nước phát triển TTQC nhằm tăng cường sức khỏe, phát triển hài hòa các yếu tố về thể chất và tinh thần của con người. Phong trào TTQC được đánh giá bằng chỉ tiêu số người luyện tập và gia đình thể thao.
Hoạt động TDTTQC không chỉ tăng cường sức khỏe của mọi người mà còn tác dụng điều chỉnh tính tình, bồi dưỡng phẩm chất tốt đẹp. Thông qua những hoạt động TDTT nhẹ nhàng, thoải mái làm cho con người vui vẻ, lạc quan quên đi những ưu tư, phiền muộn; qua các hoạt động và thi đấu TDTT có thể rèn luyện tinh thần vượt khó khăn, ý chí quyết tâm. Hoạt động TDTTQC gắn kết mọi người dân trong các sinh hoạt tập thể, gia tăng tinh thần đoàn kết, tương trợ, phối hợp trong cuộc sống. Ở đây TTQC là một bộ phận quan trọng của TT cho mọi người; là hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu các bài tập TD và các môn TT của tất cả mọi người trong cộng đồng 54 dân tộc anh em.
Đối tượng của TTQC là toàn dân, không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, chính trị, tình trạng sức khỏe và nơi cư trú. Khái niệm quản lý nhà nước về thể dục thể thao 1. Quản lý nhà nước “QLNN là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật” [25, tr. Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. QLNN được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp; theo nghĩa hẹp, QLNN chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. QLNN được đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa hẹp; bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. “Hoạt động QLNN chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật” [6, tr.
Khái niệm quản lý nhà nước về thể thao quần chúng “QLNN về TDTT là thể hiện chức năng QLNN thông qua các thể chế và các tổ chức của ngành TDTT để chỉ đạo, quản lý đối với TDTT” [25, tr. QLNN về TDTT là một bộ phận không thể thiếu được của quản lý XHCN nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước. Trong đó, QLNN về TDTT hướng vào hành động suy nghĩ ý thức, có tổ chức của con người; góp phần đắc lực vào quá trình đào tạo phát triển con người toàn diện 11 và nó còn đảm bảo cho việc phát triển thể thao TTC. Như vậy có thể hiểu khái niệm QLNN về TDTT là một loại hoạt động tổng hợp có mục tiêu xác định, có tổ chức thực hiện, có đánh giá hiệu quả nhằm phát triển sự nghiệp TDTT.
Từ cách hiểu về khái niệm “quản lý nhà nước về TDTT” nói trên, ta có thể khái quát rằng “quản lý nhà nước về TTQC” là thể hiện chức năng QLNN về mặt hành pháp thông qua các thể chế,các tổ chức của ngành TDTT để chỉ đạo, quản lý đối với TTQC. Là một loại hoạt động tổng hợp có mục tiêu xác định, có tổ chức thực hiện, có đánh giá hiệu quả nhằm phát triển TDTT QC. Chủ thể quản lý nhà nước về thể dục thể thao quần chúng Theo Điều 5, Luật thể dục thể thao sửa đổi năm 2018, chủ thể QLNN hoạt động TDTT trong đó có TDTTQC tại nước ta là bộ máy QLNN được chia thành 4 cấp. Về cấp Trung ương chủ thể QLNN cao nhất ở là Chính phủ.
Cụ thể hơn nữa, theo Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VH, TT & DL. Bộ VH, TT & DL là cơ quan tham mưu cho Chính phủ và trực tiếp đảm nhận chức năng QLNN về TDTT trong phạm vi cả nước. Theo Quyết định số 21/2018/QĐ-TTg ngày 7/5/2018 của Thủ tướng chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục TDTT thuộc Bộ VH, TT & DL. Tổng cục TDTT Là cơ quan trực thuộc Bộ VH, TT & DL, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ VH, TT & DL QLNN về TDTT trong phạm vi cả nước thông qua đơn vị tham mưu trực tiếp là Vụ TTQC.
Ngoài ra, ở cấp trung ương còn có hình thức phối hợp QLNN về TDTT theo đối tượng như ở các ngành: GD và ĐT, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Các cơ quan này có trách nhiệm phối hợp với Bộ VH, TT & DL, Tổng cục TDTT về QLNN đối với TDTT. 12 Chủ thể quản lý nhà nước ở địa phương cấp tỉnh được quy định rõ ràng tại Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019 cùng với Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 107/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014. Theo đó, chủ thể QLNN về TDTT cấp tỉnh là UBND cấp tỉnh.
Tham mưu cho UBND cấp tỉnh trong công tác quản lý lĩnh vực này là Sở VHTT & DL hoặc Sở VH, TT. Sở này có chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương cấp tỉnh QLNN về TDTT, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chịu sự lãnh đạo, kiểm tra, giám sát về chuyên môn của Bộ VH, TT & DL, chịu trách nhiệm về sự phát triển TDTT trên địa bàn. Ngoài ra, ở các Sở GD & ĐT, Công an tỉnh,. là những đơn vị phối hợp trong xây dựng phong trào TDTT trên các đối tượng.
Về cấp quận, huyện, thị xã Phòng VHTT: Là cơ quan tham mưu cho chính quyền cấp huyện QLNN về TDTT, chịu sự lãnh đạo toàn diện của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo về chuyên môn của Sở VHTT, Sở VHTT & DL. Về cấp xã, phường, thị trấn Ban Văn hóa - Thể thao xã, phường, thị trấn: là ban tham mưu cho chính quyền cấp xã QLNN về TDTT, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của UBND xã, phường, thị trấn. Nội dung quản lý nhà nước về thể dục thể thao quần chúng Nội dung QLNN về TDTT đã được qui định cụ thể tại Điều 6, Luật thể dục, thể thao, cụ thể như sau: + Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển TDTT, các văn bản quy phạm pháp luật về TDTT. + Tổ chức, chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho TDTT.
13 + Kiểm tra, đánh giá phát triển TDTT quần chúng và hoạt động thi đấu TT. + Tổ chức, chỉ đạo hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực TDTT. + Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển sự nghiệp TDTT. + Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động TDTT.
+ Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hợp tác quốc tế về thể thao.