phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung của QLNN về TCCNNN ở cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về TCCNNN trên địa bàn huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp tăng cƣờng QLNN về TCCNNN trên địa bàn huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. 9 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở CẤP HUYỆN 1.
Tổng quan về ngành nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp 1. Khái niệm nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp 1. Khái niệm nông nghiệp Trong tác phẩm KTNN - lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. [10] Theo Giáo trình KTNN, Vũ Đinh Thắng chủ biên: “Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có NTT, NCN và ngành dịch vụ trong nông nghiệp; còn hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm cả NLN và NTS”. [32] Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên:“Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi”. Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là ngành duy nhất sản xuất ra lƣơng thực, thực phẩm.
Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải, vật chất mà con ngƣời phải dựa vào sự sinh trƣởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm nhƣ lƣơng thực, thực phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống. Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tƣợng tác động là những cây trồng, vật nuôi (kể cả lâm nghiệp, thuỷ sản) gắn liền tất yếu với tự nhiên; có thời gian sản xuất bằng với thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng, 10 vật nuôi dƣới sự tác động của điều kiện tự nhiên. Trên cơ sở phân tích các khái niệm về nông nghiệp ở trên, có thể đƣợc hiểu nông nghiệp một cách khái quát:“Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông, lâm và ngư nghiệp”. Khái niệm cơ cấu ngành nông nghiệp Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp Việt Nam: CCNNN là hệ thống các ngành sản xuất trong nông nghiệp được lựa chọn, quyết định thực hiện trong thực tế ở một địa phương hay một quốc gia.
Còn cơ cấu KTNN là tổng thể các mối quan hệ theo tỉ lệ về số lượng của các bộ phận cấu thành trong quá trình phát triển nông nghiệp theo từng giai đoạn kinh tế - xã hội nhất định. [11] CCNNN là mối quan hệ tỷ lệ về số lƣợng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận. Nói cách khác, CCNNN phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lƣợng, quy mô sử dụng đất của các chuyên ngành, tiểu ngành cấu thành nên NNN. CCNNN thể hiện vị thế của từng chuyên ngành, tiểu ngành trong mối quan hệ với toàn NNN (qua các tỷ lệ khác nhau tham gia vào NNN) trong một thời gian nhất định.
Khái niệm tái cơ cấu ngành nông nghiệp TCCNNN là quá trình sắp xếp lại các yếu tố liên quan đến một chuỗi giá trị như khâu quy hoạch, cơ sở hạ tầng, hình thức tổ chức sản xuất, chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất cũng như thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ thuộc các mặt hàng sản phẩm NNN. TCCNNN về thực chất là quá trình sắp xếp lại các yếu tố liên quan đến chuỗi giá trị các ngành hàng nông nghiệp. Từ khâu quy hoạch, cơ sở hạ tầng, tổ chức sản xuất, chuỗi cung ứng dịch vụ sản xuất, thu hoạch, thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ… Với các cơ cấu đƣợc sắp xếp và thực hiện không còn phù hợp hay đảm bảo cho các lợi thế. Đặc biệt khi nền kinh tế cần ứng dụng từ khoa học hay công nghệ, đảm bảo cho các chuyển dịch cơ cấu phù hợp.
Đặc điểm và tính cấp thiết của tái cơ cấu ngành nông nghiệp 1. Đặc điểm của tái cơ cấu ngành nông nghiệp TCCNNN là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lƣợc và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc; Gắn với phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trƣờng để bảo đảm phát triển bền vững; phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu của ngành; Thực hiện TCCNNN vừa phải theo cơ chế thị trƣờng, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và ngƣời tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lƣợng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lƣợng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; đồng thời, chú trọng đáp ứng các yêu cầu về xã hội; Nhà nƣớc giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trƣờng thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế; tập trung hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao KHCN, phát triển thị trƣờng, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống, cung cấp thông tin, dịch vụ; TCCNNN với sự tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, xã hội từ trung ƣơng đến địa phƣơng trong quá trình tái cơ cấu ngành; đẩy mạnh phát triển đối tác công tƣ (PPP) và cơ chế đồng quản lí, phát huy vai trò của các tổ chức cộng đồng. Nông dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tƣ đổi mới qui trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả SXKD và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn; Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần đƣợc thƣờng xuyên đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh phù hợp với thực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan. Tính cấp thiết của tái cơ cấu ngành nông nghiệp Thứ nhất, TCCNNN với mục tiêu xây dựng ngành nông nghiệp toàn 12 diện, phát triển bền vững, hướng tới mục tiêu chất lượng, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Tái cơ cấu nền nông nghiệp thực chất là tập trung triển khai nhiều giải pháp chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hƣớng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 20 năm qua (2000 - 2020), lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang lâm nghiệp và thủy sản theo hƣớng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp và thủy sản. Nếu năm 2000, nông nghiệp chiếm tới 80,79% giá trị gia tăng của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản, thủy sản chiếm 13,76%, lâm nghiệp chỉ chiếm 5,45%, thì năm 2010, nông nghiệp chiếm 78,27% giảm 2,52 điểm phần trăm so với năm 2000; lâm nghiệp chiếm 3,55%, giảm 1,9 điểm phần trăm; thủy sản chiếm 18,18%, tăng 4,42 điểm phần trăm. Đến năm 2021, nông nghiệp chiếm 72,84%, giảm 5,43 điểm phần trăm so với năm 2010 và giảm 7,95 điểm phần trăm so với năm 2000; lâm nghiệp chiếm 4,82%, tăng 1,27 điểm phần trăm và giảm 0,63 điểm phần trăm; thủy sản chiếm 22,34%, tăng 4,16 điểm phần trăm và tăng 8,59 điểm phần trăm.
[20] Thủy sản 22% Lâm nghiệp 5% Nông nghiệp 73% Nguồn: Tổng cục Thống kê Biểu đồ 1. Cơ cấu nông lâm thủy sản của Việt Nam năm 2021 13 Thứ hai, TCCNNN giúp phát huy lợi thế của từng vùng, miền theo hướng sản xuất hàng hóa, hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững TCCNNN trong những năm qua đã tiếp tục tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt để thúc đẩy phát triển và cơ cấu lại ngành. Thúc đẩy mạnh mẽ cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực, gắn kết chặt chẽ với ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lƣợng và hiệu quả, sức cạnh tranh, thúc đẩy tăng trƣởng và phát triển bền vững. Ngành chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thủy sản phù hợp theo hƣớng sản xuất hàng hóa, hiện đại, trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền, thích ứng với biến đổi khí hậu và nhu cầu thị trƣờng trên cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia trong mọi tình huống.
Thứ ba, TCCNNN đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu từ nông nghiệp sang lâm nghiệp và thủy sản và sự chuyển dịch trong nội bộ các hoạt động SXNN theo hướng hợp lý, hiện đại. NNN chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, thủy sản phù hợp theo hƣớng SXHH, hiện đại, trên cơ sở phát huy các lợi thế từng vùng, miền, thích ứng với biến đổi khí hậu và nhu cầu thị trƣờng trên cơ sở đảm bảo vững chắc an ninh lƣơng thực quốc gia trong mọi tình huống. Trồng trọt là lĩnh vực chủ chốt của NNN. GTSX của trồng trọt chiếm từ 64 - 68% GTSX của toàn ngành.
Hiện nay, toàn NNN đang thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hoá nông sản xuất khẩu và chuyển giao công nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lƣợng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế, lĩnh vực trồng trọt chú trọng đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hƣớng nâng cao chất lƣợng và hiệu quả. Bên cạnh lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi cũng giữ vai trò quan trọng trong NNN. Hiện chăn nuôi đang thực hiện chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hƣớng tăng tỷ trọng gia cầm và gia súc lớn; thực hiện các giải pháp đẩy mạnh tái đàn lợn; phát triển chăn nuôi theo quy mô trang trại, duy trì chăn nuôi nông hộ nhƣng theo hƣớng hữu cơ và chuyên môn hóa; tiếp tục mở rộng chăn nuôi áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt, đảm bảo an toàn dịch bệnh, an toàn sinh học, thân thiện với môi trƣờng; xuất khẩu một số sản phẩm 14 chăn nuôi. Thứ tư, TCCNNN tăng giá trị trên đơn vị diện tích canh tác, tăng thu nhập cho một bộ phận cư dân nông thôn, góp phần thúc đẩy Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.