Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tổng quan về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1. Khái niệm phổ biến pháp luật “Dân tộc thiểu số” dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm “dân tộc thiểu số” cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới.
Một dân tộc có thể được quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhưng đồng thời có thể là “thiểu số” ở quốc gia khác. Chẳng hạn người Việt (Kinh) được coi là “dân tộc đa số” ở Việt Nam, nhưng lại được coi là “dân tộc thiểu số” ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ 1/55 dân tộc thiểu số của Trung Quốc); ngược lại người Hoa (Hán), được coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhưng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (người Hoa chiếm tỉ lệ 1/53 dân tộc thiểu số của Việt Nam). Rõ ràng, quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dân tộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. Song, những nội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thống nhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới [40].
Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn. Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các bản Hiến pháp. Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14/01/2011 của Chính phủ 10 Luan van về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại Khoản 2 - Điều 4 “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Khoản 3 - Điều 4: “Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia”. Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2009, Việt Nam có 54 dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân 12,253 triệu người (chiếm 14,3%).
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra quan niệm chung về “đồng bào dân tộc thiểu số như sau: “Đồng bào dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Phổ biến pháp luật là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Với tư cách là một khái niệm pháp lý, PBPL được hình thành trong khoa học pháp lý cũng như được tiến hành trong thực tế ở nước ta rất muộn so với nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, ở nước ta hiện nay chưa có một khái niệm chính thức về PBPL.
Và, để làm rõ vấn đề này cần phải xuất phát từ khái niệm “phổ biến” và khái niệm “giáo dục”. Theo Từ điển Tiếng Việt, “phổ biến” là hoạt động truyền đạt rộng khắp làm cho nhiều người cùng biết [50], còn theo Từ và ngữ Hán Việt thì “Phổ biến là làm cho đông đảo mọi người biết đến một vấn đề, một tri thức bằng cách truyền đạt trực tiếp hay thông qua hình thức nào đó hoặc làm cho mọi người đều biết đến”. Còn “giáo dục” là sự tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [4]. Phổ biến pháp luật có đối tượng tác động rộng rãi, mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành 11 Luan van nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ được coi là một công cụ để Nhà nước dùng để trị dân.
Bên cạnh đó phổ biến pháp luật còn mang tính tác nghiệp, truyền đạt nội dung pháp luật cho các đối tượng cụ thể. Ở những mức độ khác nhau, phổ biến pháp luật còn nhằm làm cho các đối tượng cụ thể hiểu thấu suốt các quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế. Phổ biến pháp luật thường được thực hiện thông qua các hội nghị, các cuộc tập huấn… Về giáo dục pháp luật là khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng, bằng mọi cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị…) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành của đối tượng [23]. So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn.
Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể. Trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay, các tác giả đã khá thống nhất với khái niệm giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành. Tóm lại, phổ biến pháp luật hiểu theo nghĩa rộng là quá trình bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật (xây dựng chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật; triển khai chương trình, kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, 12 Luan van giáo dục pháp luật). Hiểu theo nghĩa hẹp là truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành [9].
Từ những phân tích nói trên có thể đưa ra định nghĩa PBPL như sau: Phổ biến pháp luật bao gồm cả tuyên truyền và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng được phổ biến pháp luật nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật. Từ khái niệm về phổ biến pháp luật chúng ta có thể thấy rằng: Phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số bao gồm cả tuyên truyền và giáo dục pháp luật là hoạt động có tính định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể phổ biến pháp luật tác động lên đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức, tình cảm và thói quen xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật. PBPL đối với đồng bào DTTS là một trong những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc chăm lo đời sống của đồng bào DTTS nhằm giúp họ hình thành tri thức pháp luật, tạo niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Đặc điểm của phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Đặc điểm chung phổ biến pháp luật Thứ nhất, phổ biến pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. 13 Luan van Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thể hiện ý chí của nhân dân. Chính sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Nhà nước đã xác lập sự gắn bó hữu cơ giữa đường lối, chính sách của đảng với pháp luật. Vì vậy, thực hiện pháp luật cũng là góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng.
Có thể thấy rằng, ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức chính trị. Khi thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ tạo ra khả năng cho việc giáo dục chính trị, hình thành ở đối tượng giáo dục những hiểu biết nhất định về chính trị. Ngược lại, trong quá trình giáo dục chính trị, tư tưởng có sự đan xen những nội dung, quan điểm pháp lý nhất định. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân đã khẳng định: “Phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng” [13].
Thứ hai, phổ biến pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật. Phổ biến pháp luật có quan hệ chặt chẽ với công tác xây dựng pháp luật. Trong mối quan hệ này, xây dựng pháp luật là cơ sở cho việc hình thành, đẩy mạnh phổ biến pháp luật; phổ biến pháp luật là một phương tiện quan trọng để đưa pháp luật vào cuộc sống. Hoạt động phổ biến pháp luật còn là một “kênh” để các cơ quan xây dựng pháp luật nắm bắt được yêu cầu, nhu cầu, đề xuất từ phía người dân và các tổ chức trong việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật; đánh giá được tính khả thi, hiệu quả của quy định, văn bản pháp luật trong đời sống thực tế từ đó góp phần nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật.