Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ CỦA MỘT ĐỊA PHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ 1. Khái quát về làng nghề 1. Khái niệm làng nghề Lịch sử phát triển Việt Nam gắn liền với đơn vị hành chính làng xã, cũng là nơi sinh sống và làm việc của người dân.
Trong luỹ tre làng là cả xã hội thu nhỏ với các mối liên kết đan xen trong cuộc sống và trong công việc. Làm ruộng không chỉ là một nghề nghiệp chủ yếu mà còn là một cách sống, một đặc trưng văn hoá của hầu hết cư dân ở các làng xã ở Việt Nam. Trong quá trình phát triển, một bộ phận dân cư tách ra và làm nghề khác và hình thành nên các Làng Nghề. Các làng nghề có một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển nông thôn Việt Nam.
Theo từ điển tiếng Việt: “Làng là một khối người quần tụ ở một nơi nhất định trong nông thôn. Làng là một tế bào xã hội của người Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất.” Còn “ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội.” Làm ruộng không chỉ là một nghề nghiệp chủ yếu mà còn là một cách sống, một đặc trưng văn hoá của hầu hết cư dân ở các làng xã ở Việt Nam. Trong quá trình phát triển, một bộ phận dân cư tách ra và làm nghề khác.
Ban đầu, các nghề phi nông nghiệp xuất hiện ở một số hộ gia đình, nhưng rồi trong quá trình phát triển và chuyên môn hoá sản xuất, số hộ gia đình và số người làm nghề tăng lên, dần chiếm đa số. Lúc này, làng nghề được hình thành, trở thành tên gọi thậm chí là “thương hiệu” trong vùng và cả nước. Từ đó mà các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề. Bên cạnh những người chuyên làm nghề thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề (nghề phụ), nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá mà các nghề mang tính chuyên môn cao hơn và thường chỉ giới hạn trong qui mô nhỏ (làng).
Từ cách tiếp cận đó, các nhà nghiên cứu có đưa ra một số khái niệm về làng nghề: Luan van Trong cuốn “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH - HĐH” của TS Mai Thế Hởn khái niệm về làng nghề được hiểu như sau: “Làng nghề là cụm dân cư sinh sống trong một thôn, có một hay một số nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các ngành đó chiếm tỷ lệ cao trong tổng số thu nhập.” Cũng dựa trên khái niệm làng nghề của TS Mai Thế Hởn, TS Đỗ Quang Dũng đã phân tích sâu hơn về mặt thu nhập từ đó đưa ra khái niệm: “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hay có một số nghề thủ công hầu như được tách hẳn khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như mức thu nhập từ nghề so với tổng số thu nhập và lao động của làng nghề.” Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lại đưa ra khái niệm làng nghề như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”. Như vậy chúng ta thấy rằng: chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về “ làng nghề ”. Theo tác giả, Làng nghề là một không gian kinh tế nhất định, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, chủ yếu liên quan tới các nghề thủ công và một số dịch vụ, trong đó lao động và thu nhập từ nghề này chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Đặc điểm của làng nghề Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có từ rất lâu, phát triển rất đa dạng, phong phú và có đặc điểm sau: - Thứ nhất: Làng nghề Việt Nam đa dạng về cơ cấu ngành hàng và chủng loại mặt hàng và gắn chặt với sản xuất nông nghiệp. Đặc điểm này xuất phát từ chính cơ sở hình thành ban đầu của làng nghề là khai thác lợi thế tại chỗ và phục vụ nhu cầu dân cư trong vùng. Do nhu cầu việc làm và thu nhập mà ban đầu người nông dân đã làm nghề thủ công và coi đó là nghề phụ làm thêm bên cạnh nghề làm ruộng vào những lúc thời gian nhàn rỗi hoặc sử dụng lao động nhàn rỗi. Ngoài ra, trong bối cảnh nền sản xuất nhỏ, nặng về tự cung tự cấp nên làng nghề là nguồn cung cấp nhiều loại hàng hoá thiết yếu cho dân cư trong nhiều thế kỷ.
Lúc đầu nghề thủ công chủ yếu là sản xuất và sửa chữa những sản phẩm phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống như nghề dệt vải, nghề rèn, đan lát, nghề làm giấy, làm tranh, đúc đồng, .Về sau do nhu cầu phải trao đổi hàng hoá và do lực lượng sản xuất phát triển, nghề thủ công phát triển, một bộ phận dân cư trong làng đã tách khỏi sản xuất nông nghiệp và làm nghề thủ công nghiệp, những sản phẩm của họ vẫn phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân trong Luan van làng và những làng xung quanh. Mặt khác, mặc dù chuyên làm nghề thủ công nghiệp nhưng họ vẫn giữ đất nông nghiệp để sản xuất thóc gạo đảm bảo cuộc sống của họ. Trong điều kiện phát triển kinh tế, tăng cường hội nhập quốc tế và nhất là trong xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làng nghề có cơ hội mở rộng ngành hàng, lĩnh vực mới. Hiện nay, làng nghề không chỉ còn bó gọn trong một số ngành hàng tiểu thủ công nghiệp được cha ông để lại mà mở thêm nhiều lĩnh vực mói như công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Ví dụ, ở Bắc Ninh các làng nghề đã có nhiều mặt hàng mới, tỷ trọng các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng, thực phẩm tăng rõ rệt so với trước đây.
- Thứ hai, Làng nghề thường gắn với nông nghiệp, nông thôn. Nông thôn là nguồn cung cấp nguyên liệu, lao động và thị trường tiêu thụ chủ yếu cho các sản phẩm làng nghề. Các làng nghề nông sản, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ lấy nguyên liệu chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp. Điều đó thể hiện rõ sự phân bố làng nghề ở Việt Nam thường gắn với vùng nguyên liệu, như Nga Sơn (Thanh Hoá), Kim Sơn (Ninh Bình) nổi tiếng về các làng nghề chiếu cói là nhờ có vùng nguyên liệu cói.
Về nhân lực, làng nghề phụ thuộc hoàn toàn vào lao động nông nghiệp. Hiện có 100% lao động làng nghề xuất thân từ nông thôn với hình thức làm việc bán thời gian là chủ yếu. Thu hút lao động nông nhàn là thế mạnh (cho phép giảm chi phí tối đa) và cũng là điểm chủ yếu của làng nghề, bởi vậy khi nhận được đơn hàng vào dịp nông vụ, các làng nghề không có đủ lao động để đáp ứng tiến độ giao hàng. Sản phẩm làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở thị trường nông thôn và khách hàng chủ yếu là người làm nông nghiệp.
Đa số làng nghề có đích nhắm tiêu thụ sản phẩm là thị trường trong vùng. Điều này có thể thấy rất rõ ở đa số ngành hàng từ chế biến thực phẩm đến cơ khí… - Thứ ba, Quy mô sản xuất ở các làng nghề hiện còn nhỏ bé, thể hiện ở quy mô hộ gia đình là chủ yếu Do làng nghề ở nông thôn chủ yếu là làng nghề truyền thống, mô hình tổ chức gia đình là chủ yếu, cha truyền con nối, nên qui mô sản xuất bị giới hạn trong phạm vi gia đình huyết thống. Các hình thức tổ chức sản xuất hợp tác xã, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần không đáng kể. Trong mô hình sản xuất này, người chủ gia đình là người thợ cả, có kỹ thuật cao vừa tổ chức sản xuất kinh doanh, vừa quản lý và hạch toán kinh doanh, vừa là người truyền nghề, quản lý kỹ thuật, còn mọi thành viên trong gia đình, dòng họ là những người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh; tuỳ theo năng lực trình độ của mỗi người mà được người chủ giao công việc cụ thể, dẫn tới năng lực sản xuất làng nghề còn hạn chế.
Trong thời kỳ đổi mới, nhờ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cơ Luan van chế quản lý thay đổi, làng nghề được phát huy mạnh mẽ, khai thác mọi tiềm năng của các hộ gia đình vào sản xuất kinh doanh. Do cơ chế thị trường, các gia đình trong làng nghề phải cạnh tranh với nhau, nên qui mô sản xuất kinh doanh đã được mở rộng, lao động sản xuất đã được thuê mướn bên ngoài, anh em con cháu gia đình đóng vai trò quản lý từng khâu, từng mắt xích quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiện nay tuy đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty CP nhưng qui mô sản xuất vẫn giới hạn trong phạm vi gia đình hoặc dòng họ. Các công ty, các doanh nghiệp này đóng vai trò là trung tâm, vệ tinh tìm kiếm thị trường, tiêu thụ lớn về sản phẩm hoặc cung ứng lớn về vật tư cho các hộ gia đình thực hiện dưới hình thức hợp đồng.
- Thứ tư, phương pháp dạy nghề trong các làng nghề là truyền nghề Xuất phát từ đặc điểm qui mô sản xuất chủ yếu là gia đình và bí quyết riêng trong nghề của từng gia đình, nên việc dạy nghề cho con cháu hoặc người thân là hình thức truyền nghề trực tiếp, tức là hướng dẫn trực tiếp từng thao tác, vừa làm vừa học nhằm giữ bí quyết riêng của gia đình trong nghề. Do đặc thù nghề nghiệp mà không thể sử dụng máy móc để sản xuất hàng loạt được mà phải dựa vào lao động thủ công, dựa vào bàn tay khéo léo, tinh xảo của người thợ nên việc dạy nghề vẫn phải hướng dẫn trực tiếp từng thao tác, vừa học vừa làm. Ngày nay khoa học công nghệ hiện đại, xuất hiện nhiều máy móc hiện đại, một số công việc, công đoạn của quá trình sản xuất đã sử dụng máy móc thay thế cho lao động. Chẳng hạn nghề gỗ đã sử dụng các máy cưa, máy lộng, máy bào, máy khoan để thay thế cho các lao động bào, cưa, xẻ, đục .