phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng, 8 tiết. - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của QLNN về nông nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng QLNN về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định. - Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÕ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm nông nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi” [12, tr. Trong tác phẩm Kinh tế nông nghiệp: Lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên. Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản” [7, tr. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất xã hội. Đối tượng của SXNN bao gồm các cây trồng, vật nuôi gắn liền với môi trường sinh thái.
Sản phẩm của nông nghiệp là lương thực, thực phẩm đồng thời nguồn nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến. Vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 1. Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Xã hội càng phát triển, đời sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao thì nhu cầu của con ngƣời về lƣơng thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lƣợng, chất lƣợng. Thực tiễn lịch sử các nƣớc trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng, chừng nào quốc gia đó đã có an ninh lƣơng thực.
Nếu không đảm bảo an ninh lƣơng thực thì khó có sự ổn định 7 chính trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tƣ dài hạn. Phát huy lợi thế này, sau hơn 35 năm năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam luôn duy trì ở mức tăng trƣởng bình quân khoảng 3,5%/năm, mức cao ở khu vực châu Á nói chung, khu vực Đông - Nam Á nói riêng. Trong 10 năm gần đây (2009-2019), tốc độ tăng trƣởng GDP toàn ngành nông nghiệp đạt 2,61%/năm, tốc độ tăng giá trị sản xuất đạt 3,64%, đóng góp đáng kể trong tăng trƣởng GDP cả nƣớc. Ngành nông nghiệp Việt Nam đã làm tốt vai trò bệ đỡ quan trọng để nền kinh tế phát triển bình thƣờng và đạt tốc độ tăng trƣởng GDP khoảng 2,65% năm 2020; đảm bảo nguồn cung ứng cho 100 triệu dân và phục vụ xuất khẩu [4].
Nông nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho ngành công nghiệp đặc biệt ngành công nghiệp chế biến và khu vực đô thị Nông nghiệp là khu vực dự trữ và cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt CNCB. Thông qua CNCB, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trƣờng… Trong 10 năm qua (2010-2020), công nghiệp CBNS nƣớc ta đã có bƣớc phát triển rõ nét, tốc độ tăng trƣởng giá trị gia tăng đạt khoảng 5-7%/năm.500 doanh nghiệp chế biến quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu, tổng công suất đạt khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu/năm. Công nghiệp CBNS ngày càng thu hút nguồn lực đầu tƣ của xã hội [8]. Ngoài ra, khu vực nông nghiệp cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị.
Quá trình CNH và đô thị hóa một mặt tạo ra nhu cầu rất lớn về lao động, mặt khác nhờ đó mà năng suất lao động trong nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lƣợng lao động đƣợc giải phóng trong nông nghiệp ngày càng nhiều. Số lao động đƣơc giải phóng này lại chuyển dịch vào công 8 nghiệp và thành phố. Đây là xu hƣớng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình CNH, HĐH đất nƣớc. Nông nghiệp là thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp và nông thôn là thị trƣờng tiêu thụ lớn của công nghiệp.
Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cƣ nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bƣớc nâng cao chất lƣợng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trƣờng thế giới. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp thì kết cấu hạ tầng KT - XH ở nông thôn đƣợc quan tâm xây dựng. Hệ thống đê điều, đƣờng giao thông, trung tâm thƣơng mại, kết cấu hạ tầng nghề cá…. đƣợc củng cố và xây dựng.
Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu và đem lại thu nhập ngoại tệ lớn Nông nghiệp đƣợc coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Gần đây một số nƣớc đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại NLTS, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nƣớc. Việt Nam là một điển hình, tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS 5 năm (2016-2020) khoảng 190,32 tỷ USD, trung bình 38,06 tỷ USD/năm. Năm 2020 tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS đạt con số kỷ lục với 41,25 tỷ USD, vƣợt mục tiêu (39 tỷ-40 tỷ USD) tăng 2,5% so với năm 2019.
Tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chất lƣợng cao, có lợi thế nhƣ thủy sản, rau, hoa, quả, cây công nghiệp giá trị cao, đồ gỗ và lâm sản. Xuất khẩu NLTS đứng thứ 2 Đông Nam Á, thứ 15 thế giới và có mặt ở trên 196 quốc gia và vùng lãnh thổ [4]. Nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của môi trường Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trƣờng vì SXNN gắn liền trực tiếp với môi trƣờng tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất nhƣ 9 phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh… làm ô nhiễm đất và nguồn nƣớc.
Quá trình canh tác, SXNN dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng. Vì thế cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trƣờng. Những đặc điểm của ngành nông nghiệp và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nƣớc về nông nghiệp 1. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Ở mỗi vùng quốc qia có điều kiện tự nhiên và thời tiết, khí hậu rất khác nhau.
Điều kiện thời tiết khí hậu gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất. Do điều kiện khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét. Vì vậy, quá trình tổ chức chỉ đạo SXNN cần phải chú ý các vấn đề kinh tế sau đây: + Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông nghiệp để quy hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp. + Việc xây dựng phƣơng hƣớng SXKD, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng.
+ Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực. Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt Trong nông nghiệp, đất đai là tƣ liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt thể hiện trên các khia cạnh: đất đai có vị trí cố định; đất đai bị giới hạn về mặt không gian; đất đai vừa là tƣ liệu lao động vừa là đối tƣợng lao động; đất đai là yếu tố môi trƣờng; đất đai nếu đƣợc khai thác và sử dụng hợp lý thì độ phì nhiêu không ngừng tăng lên. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, kiểm soát chặt chẽ khi chuyển đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, tiết kiệm đất có nguồn gốc đất nông nghiệp trong xây dựng, đô thị hóa, tìm mọi biện pháp để cải tạo và thâm canh làm cho ruộng đất ngày 10 càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi Cây trồng và vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học nhất định.
Nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến phát triển và diệt vong. Chính vì vậy, SXNN phải dựa trên đặc điểm sinh lý, sinh hóa của cây trồng và vật nuôi. Để phát huy đƣợc đặc điểm này của SXNN cần: Điều tra, phân loại các điều kiện tự nhiên làm cơ sở cho bố trí SXNN; Nhà nƣớc đặc biệt ƣu tiên nhập, lai tạo, ứng dụng các tiến bộ KHCN sinh học, giống mới có năng suất, chất lƣợng tốt vào SXNN; Lợi thế của từng vùng trở thành một căn cứ quan trọng để bố trí cơ cấu SXNN. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đây là nét đặc thù điển hình nhất của SXNN, bởi vì một mặt SXNN là quá trình tái SXKD gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.
Đặc điểm này của nông nghiệp dẫn đến tính thời vụ cao trong việc sử dụng lao động, vốn và các nguồn lực khác. Để giảm bớt tính thời vụ: Điều chỉnh cơ cấu mùa vụ khuyến khích hoạt động sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn; Lựa chọn các khâu, các giai đoạn để tác động cơ giới hóa vào nông nghiệp; Hỗ trợ phân công lại lao động trong nông nghiệp, hoạch định chính sách tài chính, tín dụng phù hợp… Bên cạnh những đặc thù nói trên, nông nghiệp Việt Nam còn có những nét đặc thù riêng: - Nông nghiệp Việt Nam là nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán và chƣa có công nghiệp phát triển. Diện tích đất nông nghiệp ít, dân số đông nên bình quân đất SXNN tính theo đầu ngƣời thuộc loại thấp thế giới.