CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 1. Khái niệm nông nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản xuất chăn nuôi [22]. Trong tác phẩm Kinh tế Nông nghiệp - lý thuyết và thực tiễn, tác giả Đinh Phi Hổ quan niệm: “Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Hoạt động nông nghiệp không những gắn liền với các yếu tố kinh tế, xã hội mà còn gắn với các yếu tố tự nhiên.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản” [13]. Theo đó, kinh tế nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt là ngành sử dụng đất đai với cây trồng làm đối tượng chính để sản xuất ra lương thực, thực phẩm, tư liệu cho công nghiệp và thỏa mãn các nhu cầu về vui chơi giải trí, tạo cảnh quan (hoa viên, cây kiềng, sân banh, sân golf). Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chủ yếu của nông nghiệp (theo nghĩa hẹp), với đối tượng sản xuất là các loại động vật nuôi. Đây là ngành cung cấp thực phẩm nhiều chất đạm như thịt, sữa, trứng; cung cấp da, len, lông; sản phẩm phụ của chăn nuôi dùng làm phân bón; gia súc dùng làm sức kéo.
Lâm nghiệp là các hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ rừng; khai thác, vận chuyển và chế biến các sản phẩm từ rừng; trồng cây, tái tạo rừng, duy trì tác dụng phòng hộ của rừng. Ngư nghiệp bao gồm đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong đó đánh 9 bắt là hoạt động lâu đời của con người nhằm cung cấp thực phẩm cho mình thông qua các hình thức đánh bắt cá và các thủy sinh vật khác. Những đặc điểm chủ yếu của nông nghiệp Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, nên mang tính khu vực rõ rệt.
Đặc điểm này cho thấy, ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành khác không có, cụ thể: Thứ nhất, đó là tính vùng. Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên một địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực cao. Ở mỗi quốc gia, mỗi vùng có điều kiện khí hậu, thời tiết, lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá, sử dụng khác nhau thì hoạt động nông nghiệp sẽ khác nhau.
Thứ hai, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan nhưng sức sản xuất của ruộng đất chưa giới hạn. Chính vì thế, trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng đất, sử dụng đất tiết kiệm, cải tạo, bồi dưỡng để làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, cần xem xét thật kỹ càng khi chuyển từ đất nông nghiệp sang các loại đất khác. Thứ ba, đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi.
Các loại này phát triển theo quy luật sinh học (sinh trưởng, phát triển và diệt vong), nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh. Với tư cách là tư liệu sản xuất thì chúng là tư liệu sản xuất đặc biệt bởi nó được sản xuất trong nông nghiệp bằng cách sử dụng sản phẩm thu được của chu kỳ trước. Do đó, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, lai tạo ra những giống mới phù hợp với điều kiện từng vùng để cho năng suất cao. Thứ tư, sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao.
Đây là đặc thù điển 10 hình nhất bởi quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế gắn với quá trình tái sản xuất tự nhiên; thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ không thể xóa bỏ được mà chỉ có thể hạn chế nó. Do đó, người nông dân phải khai thác tốt quy luật này để giảm chi phí sản xuất, cũng như phải có giải pháp tổ chức sản xuất hợp lý để hạn chế những khó khăn, khai thác hiệu quả sản xuất. Thứ năm, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc điều kiện tự nhiên và mang tính đặc thù địa phương.
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như: đất đai, nguồn nước, khí hậu, thời tiết. Ở mỗi vùng, miền, ngoài sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, còn có sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, tập quán, con người… Do vậy, cần nâng cao chất lượng công tác quy hoạch nhằm xây dựng những vùng chuyên canh, sản xuất lớn vừa đạt hiệu quả về kinh tế - xã hội, vừa phù hợp với từng vùng, miền. Mỗi vùng, miền không chỉ có những sản phẩm nông nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên mà còn có những sản phẩm nông nghiệp mang lợi thế cạnh tranh bởi tính đặc sản và chất lượng nông sản. Quản lý nhà nước đối với nông nghiệp 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về nôngnghiệp Để làm rõ khái niệm QLNN về nông nghiệp, trước hết luận văn nghiên cứu, tìm hiểu khái niệm về QLNN. Trong luận án tiến sỹ quản lý kinh tế nghiên cứu về “Đổi mới QLNN đối với nông nghiệp Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”của Hoàng Sỹ Kim; tác giả chỉ ra rằng, QLNN là “hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [18]. 11 Bên cạnh đó, trong luận án tiến sĩ quản lý hành chính công, tác giả Nguyễn Văn Chử nghiên cứu về “Hoàn thiện nội dung QLNN đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay”, tác giả cũng chỉ ra rằng, QLNN: “Là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội” [9]. Như vậy, QLNN là hoạt động quyền lực của cơ quan nhà nư ớ c thông qua công cụ pháp luật nhằm mục đích ổn định và phát triển xã hội.
Về khái niệm QLNN về nông nghiệp, trong luận án tiến sỹ quản lý kinh tế nghiên cứu về Đổi mới QLNN đối với nông nghiệp Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Hoàng Sỹ Kim, tác giả chỉ ra rằng: “QLNN về lĩnh vực nông nghiệp là hoạt động sắp xếp, tổ chức, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương tới địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật, chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất” [18]. Trong Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, tác giả Vũ Đình Thắng cho rằng: “QLNN về kinh tế trong nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo điều kiện và tiền đề, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất - kinh doanh nông nghiệp hướng tới mục tiêu chung của toàn nền nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng tự giải quyết của đơn vị kinh tế trong hoạt động kinh tế trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; điều tiết các lợi ích giữa các vùng, các ngành, sản 12 phẩm nông nghiệp, giữa nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế; thực hiện sự kiểm soát đối với tất cả các hoạt động trong nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn làm ổn định và lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội…” [30]. Từ các quan niệm trên, luận văn đưa ra khái niệm: QLNN về nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động chi phối, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy nhà nước;thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan. Đặc điểm quản lý nhà nước về nông nghiệp 1.
QLNN về nông nghiệp có tính phức tạp cao Sản xuất nông nghiệp có tính chất liên ngành, diễn ra trong phạm vi không gian rộng lớn và đối tượng của ngành thì luôn thay đổi, phát sinh từ cung cấp các điều kiện sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm, điều này đã làm tăng thêm mức độ phức tạp của công tác QLNN về nông nghiệp so với các ngành khác. Bên cạnh đó, sự không đồng đều về trình độ phát triển sản xuất và quản lý cùng với các điều kiện về vật chất kỹ thuật và đa dạng hóa của các vùng làm tăng cao mức độ phức tạp của công tác QLNN về nông nghiệp. QLNN về nông nghiệp khó khăn hơn so với quản lý các ngành khác Các hoạt động sản xuất nông nghiệp chủ yếu diễn ra trên địa bàn nông thôn, là khu vực có hạ tầng phát triển chậm, mức sống dân cư thấp,bên cạnh đó, đất sản xuất manh mún; phạm vi rộng lớn, đa dạng về địa hình, hoạt động sản xuất diễn ra không giống nhau; đây là khó khăn rất lớn trong việc phân bổ nguồn lực, nguồn vốn cũng như sự đầu tư kỹ thuật mới cho nông nghiệp. Mặt khác, chủ thể chính trong sản xuất nông nghiệp là nông dân, so với các ngành khác, họ không chỉ thiếu vốn mà còn thiếu kiến thức, trình độ không đồng đều, điều này khiến cho công tác QLNN về nông nghiệp khó 13 khăn hơn so với các ngành khác, đặc biệt là trong công tác giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm.