Quản Lý Nhà Nước Về Nhà Ở Đô Thị Tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

210
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Nhà Nước Về Nhà Ở Đô Thị Tại Việt Nam

Nhà ở là nhu cầu thiết yếu, ảnh hưởng đến mức sống, ổn định xã hội và phát triển đất nước. Tháp nhu cầu Maslow xếp nhà ở ở vị trí ưu tiên. Việc đáp ứng nhu cầu nhà ở diễn ra qua nhiều hình thức, bao gồm tự xây và mua bán. Nhà ở đô thị (NƠ ĐT) là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế đô thị, tái sản xuất sức lao động, và điều chỉnh quan hệ xã hội. Sở hữu nhà là một quyền con người. Tuyên ngôn toàn cầu về Nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế năm 1966 ghi nhận quyền có chỗ ở phù hợp. Các quốc gia đều ghi nhận trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo chỗ ở phù hợp cho người dân. Theo [129, tr 15], các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận trong Hiến pháp và khẳng định Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo cho người dân có chỗ ở phù hợp với khả năng chi trả.

1.1. Vai trò của nhà ở đô thị trong phát triển kinh tế xã hội

Nhà ở đô thị không chỉ là nơi cư trú mà còn là nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống, khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội việc làm của người dân. Đầu tư vào nhà ở là đầu tư vào nguồn nhân lực và sự ổn định của xã hội. Việc đảm bảo nhà ở cho người dân đô thị là yếu tố then chốt để xây dựng đô thị văn minh, hiện đại và phát triển bền vững.

1.2. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về nhà ở đô thị

Quản lý nhà nước về nhà ở đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường bất động sản, đảm bảo quyền lợi của người dân và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững. Quản lý hiệu quả giúp giải quyết các vấn đề như thiếu nhà ở, chất lượng nhà ở kém, xây dựng trái phép và lấn chiếm đất công. Đồng thời, nó tạo ra môi trường sống an toàn, tiện nghi và hài hòa cho cư dân đô thị.

II. Thách Thức Quản Lý Nhà Ở Đô Thị Tại Việt Nam Hiện Nay

Việt Nam có tốc độ đô thị hóa nhanh, dân số đô thị tăng cao, tạo áp lực lớn lên nhu cầu nhà ở. Tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 19,6% lên khoảng 39,3% năm 2020. Mật độ dân số ở các đô thị lớn tăng cao. Đảng và Nhà nước quan tâm giải quyết vấn đề nhà ở, ban hành nhiều chính sách. Hiến pháp (1980) khẳng định quyền có nhà ở của công dân. Luật Nhà ở đầu tiên năm 1991 quy định quyền mua nhà. Chiến lược Phát triển Nhà ở Quốc gia năm 2011 chỉ rõ quyền có chỗ ở phù hợp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế: thiếu nhà ở, chất lượng thấp, xây dựng trái phép, quản lý bất cập. Theo thống kê của Bộ xây dựng, khoảng 1/3 cư dân tại các đô thị lớn gặp khó khăn về nhà ở. Điều này đỏi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nước nhằm thực hiện quản lý, kiểm soát sự phát triển NƠ ĐT.

2.1. Bất cập trong chính sách nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp

Chính sách nhà ở xã hội chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người thu nhập thấp. Thủ tục phức tạp, nguồn cung hạn chế, vị trí xa trung tâm và chất lượng chưa đảm bảo là những rào cản khiến người dân khó tiếp cận. Cần có giải pháp đột phá để tăng cường nguồn cung, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao chất lượng nhà ở xã hội.

2.2. Tình trạng xây dựng trái phép không phép và lấn chiếm đất công

Tình trạng xây dựng trái phép, không phép và lấn chiếm đất công vẫn diễn ra phức tạp, gây ảnh hưởng đến quy hoạch đô thị và trật tự xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu là do quản lý lỏng lẻo, xử lý vi phạm chưa nghiêm và lợi ích nhóm. Cần có biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn và xử lý triệt để tình trạng này.

2.3. Khó khăn trong quản lý và vận hành nhà chung cư

Quản lý và vận hành nhà chung cư còn nhiều bất cập, gây tranh chấp giữa cư dân và chủ đầu tư. Các vấn đề thường gặp là phí dịch vụ cao, chất lượng dịch vụ kém, quỹ bảo trì bị sử dụng sai mục đích và thiếu minh bạch trong quản lý tài chính. Cần có quy định rõ ràng và chế tài đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của cư dân.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Thể Chế Chính Sách Quản Lý Nhà Ở Đô Thị

QLNN về NƠ ĐT là hoạt động quản lý cần thiết, tác động mạnh mẽ đến sự phát triển KT -XH của mỗi quốc gia. QLNN về NƠ ĐT sẽ định hướng, điều chỉnh sự phát triển NƠ ĐT; giải quyết những tồn tại, vướng mắc và đáp ứng các nhu cầu về nhà ở; đảm bảo sự ổn định và bền vững thị trường nhà ở. Do đó, các cơ quan nhà nước cần thiết phải tăng cường hơn nữa QLNN về NƠ ĐT; không ngừng đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý NƠ ĐT đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân đô thị, đảm bảo sự phát triển bền vững… Nhà nước tập trung làm tốt các chức năng: định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách…; thực hiện QLNN bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính.

3.1. Rà soát và sửa đổi Luật Nhà ở và các văn bản pháp luật liên quan

Cần rà soát và sửa đổi Luật Nhà ở và các văn bản pháp luật liên quan để đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, cần bổ sung các quy định về nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, quản lý và vận hành nhà chung cư, và xử lý vi phạm trong lĩnh vực nhà ở.

3.2. Xây dựng cơ chế khuyến khích phát triển nhà ở xã hội

Cần xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở xã hội. Các biện pháp có thể áp dụng là ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng và thủ tục hành chính. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ người thu nhập thấp tiếp cận nhà ở xã hội.

3.3. Tăng cường phân cấp ủy quyền trong quản lý nhà ở đô thị

Cần tăng cường phân cấp, ủy quyền cho các địa phương trong quản lý nhà ở đô thị. Điều này giúp nâng cao tính chủ động, linh hoạt và hiệu quả của công tác quản lý. Đồng thời, cần tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của các địa phương.

IV. Kiện Toàn Bộ Máy Quản Lý Nhà Nước Về Nhà Ở Đô Thị Hiện Nay

Hiện nay, hệ thống lý thuyết về QLNN về NƠ ĐT nước ta chưa được hình thành hoàn chỉnh, trong đó thiếu các lý thuyết về thể chế, tổ chức bộ máy, về con người và các định mức nguồn tài chính trong QLNN về NƠ ĐT. Chính vì sự thiếu sót về hệ thống lý luận này, luận án cần thiết xây dựng chủ thuyết cho hoạt động QLNN về NƠ ĐT tại Việt Nam. Mặc dù đã có một số nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý, phát triển NƠ ĐT, tuy nhiên các nghiên cứu này hầu như chưa gắn với các hoạt động QLNN về NƠ ĐT, chưa làm rõ được nội dung, các yếu tố tác động cũng như đánh giá cụ thể thực trạng NƠ ĐT các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về NƠ ĐT trên phạm vi cả nước.

4.1. Nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà ở đô thị

Cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà ở đô thị. Các biện pháp có thể áp dụng là đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý và đạo đức công vụ. Đồng thời, cần có cơ chế tuyển dụng, đánh giá và bổ nhiệm cán bộ công khai, minh bạch.

4.2. Tăng cường phối hợp giữa các bộ ngành và địa phương

Cần tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong quản lý nhà ở đô thị. Điều này giúp giải quyết các vấn đề liên ngành, liên vùng và đảm bảo tính thống nhất trong chính sách và quy hoạch. Đồng thời, cần có cơ chế chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các địa phương.

4.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà ở đô thị

Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà ở đô thị. Các ứng dụng có thể triển khai là xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà ở, quản lý quy hoạch trực tuyến, cấp phép xây dựng điện tử và giám sát thi công từ xa. Điều này giúp nâng cao hiệu quả, minh bạch và giảm thiểu chi phí trong quản lý.

V. Đề Xuất Giải Pháp Huy Động Nguồn Lực Phát Triển Nhà Ở Đô Thị

Nhà ở gắn liền với đất ở mà theo Hiến pháp quy định đất ở là lãnh thổ công cộng của quốc gia nên nhà ở có mối quan hệ hữu cơ trong tổng thể quy hoạch đô thị. Do đó, phải có sự quản lý của nhà nước, nghĩa là vấn đề nhà ở phải được nhà nước điều tiết ở tầm vĩ mô. Nhà nước phải có quan điểm coi nhà ở là hàng hoá đặc biệt và phát triển nhà ở trong cơ chế thị trường là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy, chính sách xây dựng nhà ở phải được cụ thể hóa. Hệ thống nhà ở phải gắn với hệ thống hạ tầng kỹ thuật về điện, nước, xử lý nước thải, môi trường thông thoáng,…Việc xây dựng nhà ở chủ yếu do vốn tự có và công sức của mỗi người, mỗi gia đình. Nhưng đối với người nghèo, người thu nhập thấp, người thuộc diện chính sách thì rất cần sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng là rất cần thiết.” [56, tr 432]

5.1. Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư phát triển nhà ở

Cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư phát triển nhà ở, bao gồm vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và vốn từ người dân. Đồng thời, cần khuyến khích các hình thức đầu tư như hợp tác công tư (PPP), liên doanh liên kết và huy động vốn từ thị trường chứng khoán.

5.2. Phát triển thị trường bất động sản minh bạch và bền vững

Cần phát triển thị trường bất động sản minh bạch và bền vững. Các biện pháp có thể áp dụng là tăng cường công khai thông tin, kiểm soát giao dịch, chống đầu cơ và rửa tiền. Đồng thời, cần có chính sách hỗ trợ người dân tiếp cận tín dụng mua nhà.

5.3. Xây dựng quỹ phát triển nhà ở đô thị

Cần xây dựng quỹ phát triển nhà ở đô thị để hỗ trợ các dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê và cải tạo chung cư cũ. Nguồn vốn của quỹ có thể từ ngân sách, đóng góp của doanh nghiệp và các nguồn khác. Quỹ cần được quản lý minh bạch và sử dụng hiệu quả.

VI. Tăng Cường Thanh Tra Giám Sát Quản Lý Nhà Ở Đô Thị Việt Nam

Đặc biệt là những người lao động trẻ có mức thu nhập còn rất thấp, chưa tự giải quyết được nhu cầu về nhà ở. Theo thống kê của Bộ xây dựng, khoảng 1/3 cư dân tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh gặp khó khăn về nhà ở, trong đó 90% người trong lứa tuổi 18 - 35 không có nhà. Cũng theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 cho thấy nước ta vẫn còn 1.244 hộ không có nhà để ở, gần 195 nghìn hộ dân đang sống trong các căn nhà khá đơn sơ được xây dựng lâu đời. Điều này cho thấy vẫn còn khá nhiều hộ còn phải sống trong các ngôi nhà có chất lượng kém, tuổi thọ quá dài so với quy định [93].

6.1. Xây dựng cơ chế giám sát cộng đồng trong quản lý nhà ở

Cần xây dựng cơ chế giám sát cộng đồng trong quản lý nhà ở. Điều này giúp tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm và hiệu quả của công tác quản lý. Đồng thời, cần có kênh thông tin để người dân phản ánh các vấn đề liên quan đến nhà ở.

6.2. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về nhà ở

Cần xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về nhà ở, bao gồm xây dựng trái phép, lấn chiếm đất công, kinh doanh bất động sản trái phép và vi phạm quy định về quản lý chung cư. Đồng thời, cần có biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt.

6.3. Tăng cường kiểm tra thanh tra đột xuất các dự án nhà ở

Cần tăng cường kiểm tra, thanh tra đột xuất các dự án nhà ở để phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm. Đồng thời, cần có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác kiểm tra, thanh tra.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về nhà ở đô thị tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài luận án 1.1 Các nghiên cứu về nhà ở đô thị Kaara Tiana Martinez, Faculty of Law, University of Cambridge, 2020 LATS The Right to Housing in the City (Khoa Luật, Đại học Cambridge, 2020 Quyền có nhà ở trong thành phố) Mục tiêu phát triển bền vững năm 2015 của Liên hợp quốc về đô thị, mục tiêu 11 cam kết làm cho các thành phố hòa nhập, an toàn, linh hoạt và bền vững, với các mục tiêu đầy tham vọng phải đạt được vào năm 2030. Chính quyền địa phương đã trở nên quyết đoán hơn trong việc thực hiện các chuẩn mực quốc tế và hình thành mạng lưới hợp tác xuyên quốc gia. Luận án Tiến sĩ này nhằm mục đích đóng góp đáng kể bằng cách tập trung đặc biệt vào câu hỏi về nhà ở tại các thành phố và nhấn mạnh các khía cạnh xã hội của sự phát triển bền vững.

Lập luận trung tâm của đề tài là quyền con người có nhà ở trong thành phố với nghĩa vụ hành động chung để đảm bảo quyền này. Quyền có nhà ở là một vấn đề cấp bách cần phải định hướng lại để đảm bảo mọi người được tiếp cận với không gian đô thị và để giải quyết các cuộc đình công đang diễn ra ở các thành phố. [116] Adedeji Afolabi and Martin Dada(2014); bài viết Evaluation of factors affecting housing and urban development projects in lagos state (Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến nhà ở và các dự án phát triển đô thị tại nhà nước lagos); Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế CIB W107 2014, Lagos, Nigeria, 28-30 tháng 1, 2014. Bài viết đưa ra một số định nghĩa về: nhà ở và đô thị.

Nhà ở là một chức năng xã hội vượt ra ngoài phạm vi truyền thống chức năng cư trú của con người bao gồm việc cung cấp an ninh, quyền riêng tư, bảo vệ cho chủ sở hữu. Nhà ở đại diện cho một thành phần quan trọng trong xã hội và cấu trúc kinh tế và cấu thành một trong những nhu cầu cơ bản của con người của tất cả các quốc gia. 10 Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu quan trọng nhất của cuộc sống, đó là ưu tiên cho việc đạt được mức sống và điều cốt lõi là môi trường dù là nông thôn hay đô thị. Các đặc điểm vật lý của một ngôi nhà thường phụ thuộc vào khí hậu của khu vực, môi trường địa hình xung quanh, các vật liệu xây dựng sẵn có và bí quyết công nghệ của các nhà xây dựng.

Nhà ở là một thuật ngữ rộng bao gồm nhà ở, căn hộ và cơ sở hạ tầng, và có thể bao gồm toàn bộ khu dân cư, bao gồm cả không gian công cộng. Mặt khác, giao nhà ở là một cách tiếp cận nhằm cung cấp nơi ở cho công dân ở bất kỳ quốc gia nào. Định nghĩa theo Wikipedia về Đô thị hóa là sự phát triển vật chất của đất nông thôn hoặc đất tự nhiên thành đô thị các khu vực do kết quả của việc nhập cư đến một khu vực đô thị hiện có. Tác động của gia tăng dân số nhanh về phát triển đô thị và các điều kiện không chỉ đơn thuần là một nhân khẩu học hay định lượng.

Quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển là kết quả của công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa là một hệ quả của “lực đẩy” của khu vực nông thôn và “sức kéo” của thành thị. Chính sách Phát triển Đô thị quốc gia ra đời là kết quả của sự phức tạp đa dạng do các thành thị và thành phố đang phát triển, với dân số tăng nhanh do đó kéo dài quá mức các cơ sở hiện có. Điều này dẫn đến tình trạng quá tải, tăng áp lực lên cơ sở hạ tầng và liên kết khó khăn với phát triển đô thị. Như dự kiến, hậu quả có thể nhìn thấy và rõ ràng nhất của quá trình đô thị hóa này là sự suy thoái nhanh chóng về nhà ở và điều kiện sống.

Nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến các dự án phát triển nhà ở và đô thị được xếp hạng dựa trên đánh giá của người trả lời về tần suất ảnh hưởng của họ: Sự phát triển của đô thị hóa, gia tăng dân số, quy hoạch đô thị, tái tạo khu ổ chuột, tính khả dụng công nghệ, vốn sẵn có, thiết kế hiệu quả. Những yếu tố này được cho là có ảnh hưởng tích cực đến các dự án phát triển nhà ở và khu đô thị. Trong khi các yếu tố như lãi suất cao, văn hóa duy trì kém, can thiệp chính trị, loại chính phủ, thiếu sự đảm bảo về tài sản thế chấp và sự quan liêu cao trong việc xử lý các khoản vay được cho là có ảnh hưởng tiêu cực đến các dự án phát triển nhà ở và khu đô thị. Yếu tố chính ảnh hưởng đến nhà ở và các dự án phát triển đô thị đang phát triển là đô thị hóa, điều này đang ảnh hưởng đến lĩnh vực nhà ở, khiến nó trở nên vô cùng 11 thiếu hụt trong việc đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng của nhà nước.

Thu hẹp đầu ra nhà ở là cần thiết để ngăn chặn việc hình thành các khu ổ chuột và cư dân ổ chuột. Các chính phủ và khu vực tư nhân nên tăng cường nỗ lực hướng tới tìm nguồn cung ứng vật liệu xây dựng tại địa phương - thông qua việc khuyến khích và tài trợ cho việc nghiên cứu những vật liệu đó và quá trình sản xuất nó ở đó - bằng cách giảm chi phí của các dự án phát triển nhà ở và đô thị và tăng nguồn cung. [108] Camila Loreto Cociña Varas (2017); Housing as Urbanism: The role of Housing Policies in Reducing Urban Inequalities. A study of post 2006 Housing Programmes in Puente Alto, Chile; University College London.

(Nhà ở như Chủ nghĩa đô thị: Vai trò của chính sách Nhà ở trong Giảm Bất bình đẳng Đô thị. Một nghiên cứu về các Chương trình Nhà ở sau năm 2006 ở Puente Alto, Chile). Luận án này nhằm góp phần hiểu biết toàn diện hơn về hậu quả của chính sách nhà ở trong đô thị. Lập luận chính là các chính sách nhà ở có thể đóng vai trò trong việc giảm thiểu sự bất bình đẳng, nhưng để làm được như vậy thì nhà ở phải được hiểu là đô thị, như một quy trình đa quy mô với các cơ quan ở cấp độ kinh tế, xã hội và chính trị.

Nghiên cứu này cũng cố gắng đóng góp vào kỷ luật của chủ nghĩa đô thị. Thiết lập mối liên hệ chặt chẽ hơn giữa nhà ở và bất bình đẳng trong phạm vi đô thị, khám phá những thách thức chính sách và tiềm năng của đô thị để trình bày rõ ràng các chính sách ở các quy mô khác nhau. Trong Chương 2: Bất bình đẳng, Thành phố và Nhà ở với tư cách là Chủ nghĩa đô thị: Một khuôn khổ khả thi. Tác giả đưa ra các định nghĩa về Nhà ở với tư cách là một địa hạt vật chất, một vị trí xã hội và một bộ máy chính trị.

+ Đó là lĩnh vực vật chất của chúng ta, không gian vật chất hỗ trợ cuộc sống hàng ngày của chúng ta và hỗ trợ đến các hoạt động, sinh kế, ước mơ và nguyện vọng của gia đình. Nó là nơi vật chất, nơi chúng tôi thường gặp gỡ với những người thân thiết nhất của chúng tôi, nơi chúng tôi lưu hàng hóa của mình và cất giữ của cải của chúng ta, nơi chúng ta trú ẩn từ bên ngoài, nơi chúng ta nghỉ ngơi vào ban đêm và thông thường, tưởng tượng tương lai của chúng ta. Đối với hầu hết mọi người, nó là vật chất và kinh tế quan trọng nhất tài nguyên mà chúng tôi nắm giữ và trân trọng. 12 + Đó là một vị trí xã hội, một vị trí, một hệ thống các biểu tượng được bao hàm một cách khác nhau bởi đa dạng về dân tộc, xã hội, giới tính và nhóm tuổi; nó là ‘nơi’ bạn sống.

Nó là một phần của hệ thống rộng lớn hơn gồm nhiều nơi, liên quan đến một số mối quan hệ mà chúng ta được kết nối với nhau: ngôi nhà của bạn bè, đồng nghiệp và đối tác của chúng ta, dịch vụ công, việc làm của chúng tôi, bác sĩ, tiệm làm tóc, công viên, chợ của chúng tôi. Nó là một phần của bản sắc tập thể; đó là nơi chúng tôi đứng khi chúng tôi đòi quyền lợi của mình. + Và nó là một thiết bị chính trị, nhà ở chứa thời gian của những câu chuyện cá nhân và tập thể của chúng ta. Có một cá nhân và câu chuyện tập thể gắn liền với các tranh chấp về nhà ở.

Có các giai đoạn khác nhau của những thay đổi trong cuộc sống và cộng đồng của chúng ta liên quan đến quá trình xây dựng nhà ở và sự chuyển đổi nhà ở, cơ sở hạ tầng… theo thời gian. Có xã hội và các mối quan hệ quyền lực xuất hiện từ các ngôi nhà và khu vực lân cận của chúng ta. Cuối cùng, tác giả đã đề xuất một loạt cách hiểu về nhà ở hoặc những cây cầu khái niệm cho phép các chính sách nhà ở giải quyết vấn đề kinh tế, bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Ba cây cầu này được hình thành bởi những ý tưởng rằng nhà ở nên được coi trọng và được coi như một yếu tố kích hoạt năng suất và là một tài sản, một nền tảng cho thành phố ở nhiều quy mô, và như một quá trình đa chiều, nhằm giải quyết những bất bình đẳng trong kinh tế, xã hội và các lĩnh vực chính trị tương ứng.

Nhận thức được ba điều kiện này (như một thiết bị kinh tế, xã hội và chính trị) cho phép chúng ta nhận ra tiềm năng của nhà ở trong nhiệm vụ cấp bách và thiết yếu là giảm bất bình đẳng, một mặt, giải quyết nhiệm vụ, tập trung vào việc giảm thiểu bất bình đẳng trong thảo luận về các chính sách đô thị và nhà ở, và mặt khác, tập trung vào chính sách nhà ở và tiềm năng đa dạng và rộng khắp của chúng trong cuộc thảo luận về giảm bất bình đẳng. [126] Godswill Unekwuojo Musa, Adekunle Sunday Adeogun, Wasiu Ayobami Durosinmi (2020); Effects of COVID-19 on Urban Housing Delivery and Affordability in Nigeria (Ảnh hưởng của COVID-19 đối với việc giao nhà ở đô thị và 13 khả năng chi trả ở Nigeria); Tạp chí Quốc tế Nghiên cứu Bất động sản 14: S2 (2020), 196-205 Nhà ở đô thị được bài viết định nghĩa như sau: Nhà ở là công trình kiến trúc lâu dài để con người sinh sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ