Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 2. Một số khái niệm 2.
Khu công nghiệp Theo Nghị định 29/2008/Nđ-CP của Chính phủ Quy định về KCN, KCX, khu kinh tế (KKT) thì: “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”. “KCN là thành phố công nghiệp, một cộng đồng hoàn chỉnh, được quy hoạch đầy đủ các tiện nghi đa dạng, có hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn hảo, hệ thống xử lý nước thải, hệ thống thương mại, hệ thống thông tin liên lạc, bệnh viện, trường học và khu chung cư….” Quan niệm trên về KCN là của các nhà quản lý Thái Lan và của một số các nhà kinh tế học các nước công nghiệp thế hệ thứ hai ở đông Nam Á như Malaysia, Philipine… Nếu hiểu KCN đồng nhất với thành phố công nghiệp trên giác độ quy hoạch tổng thể một không gian kinh tế với những điều kiện cần thiết cho các sinh hoạt của cộng đồng, thì khái niệm KCN chưa phản ánh nội dung kinh tế, với những mối liên hệ bên trong cùng với sự vận động và mục đích hoạt động của KCN. Tất nhiên, không thể phủ nhận đây là cách tiếp cận KCN từ giác độ quy hoạch xây dựng KCN và tổ chức đời sống xã hội, trong đó chúng cần được kế thừa (Đặng Văn Thắng, 2006). Môi trường Vấn đề môi trường là một trong những vấn đề toàn cầu có mối quan hệ với mọi quốc gia, dân tộc và mọi con người.
Môi trường cũng là vấn đề khó giải quyết nhất trong thời đại ngày nay, nó đã và đang đe doạ đến sự tồn tại của mọi giống loài, trong đó có sự sống của con người và xã hội loài người. Chính vì vậy, việc quan trọng đầu tiên là phải thống nhất về nhận thức khi nghiên cứu vấn đề này để trên cơ sở đó có sự thống nhất về mặt hành động. 5 Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã ghi rõ “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Quốc hội, 2014). Ngoài khái niệm đã nêu trên còn một số khái niệm khác về môi trường, song, đều đi đến nhận thức chung, môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Con người là một thực thể sinh học – xã hội, vì thế môi trường sống của con người cũng không đơn thuần chỉ là môi trường tự nhiên, mà cả môi trường xã hội (Trần Thanh Lâm, 2004). Môi trường tự nhiên là các nhân tố thiên nhiên bao gồm sinh vật, những yếu tố của sự sống và các quá trình sinh - lý - hoá, nó tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng ít nhiều cũng chịu tác động của con người. Chẳng hạn như ánh sáng, không khí, đất đai, sông ngòi, đại dương, động, thực vật… Môi trường tự nhiên cho ta đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú (Nguyễn Đình Hòe, 2007). Con người có nguồn gốc từ tự nhiên, là con đẻ của tự nhiên nên tự nhiên chính là môi trường đầu tiên mà con người tiếp cận.
Tuy nhiên, con người chỉ có thể trở thành người đích thực khi được sống trong môi trường xã hội. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định. ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,.
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác. Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần 6 thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người.
Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, các tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định (Nguyễn Đình Hòe, 2007). Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Sự thống nhất giữa môi trường tự nhiên và môi trường xã hội được thể hiện ở chính bản thân con người Môi trường có các chức năng cơ bản sau: + Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. + Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người: như nước để sinh hoạt, không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, để trồng trọt, khai thác khoáng sản.
+ Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. + Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. + Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. + Môi trường là nơi hình thành bản chất con người, định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
Có thể nói, giữa con người và môi trường có mối quan hệ biện chứng với nhau. Môi trường luôn gắn liền với cuộc sống, với sự tồn tại, phát triển của con người. Tuy nhiên, con người bằng hoạt động của mình cũng có thể tác động ngược lại đến môi trường. Nếu con người nắm bắt được quy luật và tác động đúng quy luật thì sẽ đảm bảo cân bằng sinh thái, làm cho môi trường ngày càng phong phú và bền vững, song, nếu không nắm được quy luật, bất chấp quy luật 7 mà chỉ theo đuổi ham muốn vị kỷ của mình, con người sẽ huỷ hoại môi trường, phá vỡ chính nơi dung dưỡng, chở che cho mình.
Bởi vậy, con người cần phải hiểu biết về môi trường, nắm bắt được những quy luật của nó để có thái độ trân trọng và có những hành động thiết thực nhằm bảo vệ môi trường, vì bảo vệ môi trường chính là bảo vệ con người. Ngày nay, có nhiều hiện tượng tự nhiên gây bất lợi cho cuộc sống của con người, cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cho sự duy trì tồn tại của các giống loài như: sự ấm lên của trái đất, sự tan băng ở Bắc cực, bão lụt, hạn hán với cường độ ngày càng tăng,. Tất cả những hiện tượng đó suy cho cùng đều do bàn tay của con người gây nên. Do có sự thiếu hiểu biết hoặc chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà con người chà đạp lên môi trường, đã tác động một cách thô bạo vào môi trường tự nhiên như: xả các loại khí độc hại vào bầu khí quyển, tàn phá rừng, tận diệt các loài thú và côn trùng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ, các dòng sông không ngừng bị đầu độc,.
Hậu quả là con người phải gắn chịu những tổn hại từ môi trường: tài nguyên ngày càng khan hiếm, nguồn nước sạch ngày càng thiếu, lương thực không đủ cung cấp, dịch bệnh tràn lan và con người luôn phải sống trong nỗi lo sợ từ sự “ trả thù“ của tự nhiên. Quản lý nhà nước Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Theo quan điểm của Các Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng” (Đỗ Hoàng Toàn, 2008). Tức theo Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây, Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý.
8 Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý.