Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vịnh Hạ Long nằm ở vùng biển Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, là di sản thiên nhiên thế giới hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mỹ (năm 1994) và giá trị địa chất - địa mạo (năm 2000), đồng thời là Di tích quốc gia đặc biệt được Chính phủ Việt Nam xếp hạng năm 2009. Khu vực vịnh giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh, đặc biệt là các ngành du lịch, dịch vụ, cảng biển, khai thác khoáng sản và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các hoạt động nhân sinh cùng tác động của biến đổi khí hậu đã và đang tạo ra áp lực lớn đối với môi trường nước biển ven bờ và vùng lõi di sản.

Nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho công tác bảo tồn, kiểm soát ô nhiễm và nâng cao năng lực quản trị môi trường nước biển vịnh Hạ Long, tác giả Đoàn Mạnh Cường thực hiện khóa luận tốt nghiệp với các nội dung trọng tâm được xác định cụ thể:

  • Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu:

    1. Đánh giá hiện trạng chất lượng nước biển vịnh Hạ Long thông qua tổng hợp số liệu quan trắc và khảo sát cảm nhận của cộng đồng dân cư.
    2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng nước biển vịnh Hạ Long của các cơ quan chuyên trách và mức độ tham gia của người dân địa phương.
    3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu tác động ô nhiễm và bảo vệ chất lượng nước biển vịnh Hạ Long.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng chất lượng nước biển, công tác quản lý chất lượng nước biển và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường nước tại vịnh Hạ Long.
    • Phạm vi không gian: Khu vực vịnh Hạ Long (gồm vùng bảo vệ tuyệt đối, vùng đệm và vùng phụ cận thuộc tỉnh Quảng Ninh).
    • Phạm vi thời gian: Dữ liệu quan trắc chất lượng nước được thu thập định kỳ theo các quý trong năm 2019; số liệu khảo sát hiện trường, điều tra xã hội học và phỏng vấn cán bộ quản lý được tiến hành vào tháng 5 năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cách tiếp cận liên ngành giữa khoa học môi trường thực nghiệm và quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, sử dụng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và văn bản pháp lý hiện hành làm khung tham chiếu.

Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật

  • Quy chuẩn so sánh chất lượng nước: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển (QCVN 10-MT:2015/BTNMT), trong đó vùng bảo vệ tuyệt đối (vùng lõi) áp dụng giới hạn cho vùng bảo tồn thủy sinh và nuôi trồng thủy sản; vùng đệm và vùng phụ cận áp dụng giới hạn quy định cho các mục đích khác. Quy chuẩn nước thải công nghiệp mỏ áp dụng QCVN 40:2011/BTNMT.
  • Phân vùng quản lý: Thông tư số 2891/TT-KCM ngày 19/12/1996 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phân chia vịnh Hạ Long thành 3 phân vùng: Khu bảo vệ tuyệt đối (diện tích 434 $km^2$ với 775 đảo), Vùng đệm (dải bao quanh rộng 5–7 km dọc Quốc lộ 18A từ kho xăng dầu B12 Bãi Cháy đến km 11 Cẩm Phả) và Vùng phụ cận.
  • Văn bản quản lý địa phương: Quyết định số 4768/QĐ-UBND (chức năng, nhiệm vụ của Ban Quản lý vịnh Hạ Long), Quyết định số 4800/2015/QĐ-UBND (quản lý hoạt động tàu du lịch), Quyết định số 4216/2016/QĐ-UBND (quy chế quản lý, bảo vệ di sản), Quyết định số 1798/QĐ-UBND (phê duyệt Quy hoạch môi trường vịnh Hạ Long đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030) và Kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 21/02/2019 về phong trào chống rác thải nhựa.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu: Tổng hợp số liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh (2018, 2019), các báo cáo hiện trạng môi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Ban Quản lý vịnh Hạ Long, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, các tài liệu nghiên cứu của IUCN và UNESCO.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát hiện trường và phỏng vấn:
    • Khảo sát thực địa ghi nhận tình trạng xả thải, các điểm tích tụ rác và hoạt động san lấp lấn biển tại dải bờ vịnh Hạ Long.
    • Phỏng vấn chuyên sâu cán bộ Phòng Quản lý Môi trường thuộc Ban Quản lý vịnh Hạ Long vào ngày 06/5/2020.
    • Điều tra xã hội học bằng phiếu khảo sát từ ngày 07/5 đến ngày 11/5/2020 đối với $n = 50$ người dân sinh sống tại các phường ven vịnh thuộc TP. Hạ Long (Bãi Cháy, Bạch Đằng, Hồng Hải, Trần Hưng Đạo, Yết Kiêu, Tuần Châu, Cao Thắng, Hà Lầm).
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu định lượng được tổng hợp, xử lý thống kê mô tả (tính giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm) và biểu diễn đồ thị bằng phần mềm Microsoft Excel 2010. Định vị không gian các điểm quan trắc trên bản đồ số thông qua tọa độ vệ tinh và Google Maps.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, các nguồn phát thải và cơ cấu tổ chức quản lý môi trường khu vực vịnh Hạ Long:

  • Điều kiện tự nhiên: Vịnh có tổng diện tích 1.553 $km^2$ với 1.969 hòn đảo (1.921 đảo đá vôi và phiến thạch tuổi kiến tạo 250–280 triệu năm với địa hình karst đặc trưng). Đáy vịnh thoải, độ sâu trung bình 5–7 m, luồng lạch sâu 10–15 m, điểm sâu nhất đạt 25–30 m. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm 18–19°C; chế độ nhật triều thuần nhất biên độ 3,5–4,5 m; độ mặn nước biển dao động 21–22‰ (mùa mưa) và 32–33‰ (mùa khô).
  • Áp lực kinh tế - xã hội: Khu vực TP. Hạ Long và TP. Cẩm Phả có dân số 439.587 người (chiếm 33,29% dân số tỉnh Quảng Ninh), mật độ trung bình 664 người/$km^2$. Hoạt động khai thác than đạt sản lượng trên 10 triệu tấn/năm tại Hạ Long và trữ lượng khoảng 3 tỷ tấn tại Cẩm Phả; toàn vùng có 1.470 cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 3 khu công nghiệp tập trung (Cái Lân, Việt Hưng, Hà Khánh), các nhà máy xi măng, đóng tàu và nhiệt điện. Về du lịch, năm 2018 có 505 tàu du lịch hoạt động trên vịnh (314 tàu tham quan theo tiếng, 189 tàu lưu trú đêm, 2 tàu nhà hàng) cùng hệ thống 322 cơ sở lưu trú tại khu vực Bãi Cháy. Hoạt động thủy sản ghi nhận hàng nghìn phương tiện đánh bắt và 7 vùng nuôi trồng thủy sản tập trung với 456 bè nổi.
  • Nguồn tác động gây ô nhiễm nước biển:
    • Nước thải sinh hoạt: TP. Hạ Long phát sinh khoảng 30.000 $m^3$/ngày đêm nước thải sinh hoạt; hệ thống 5 trạm xử lý nước thải đô thị mới chỉ xử lý được khoảng 15.000 $m^3$/ngày đêm (đạt ~41–50% công suất cần thiết), khiến ít nhất 15.298 $m^3$/ngày đêm nước thải chưa qua xử lý triệt để xả thẳng ra môi trường vịnh.
    • Nước thải công nghiệp và khai thác mỏ: Ngành than phát sinh khoảng 150.149 $m^3$/ngày đêm (tương đương 54,8 triệu $m^3$/năm) nước thải mỏ; Tập đoàn VINACOMIN đã đầu tư 35 trạm xử lý (33 trạm đạt loại B, 2 trạm đạt loại A theo QCVN 40:2011/BTNMT). Đất đá thải mỏ khoảng 200 triệu $m^3$/năm đổ tại các bãi thải ven bờ và thượng nguồn sông suối dễ bị rửa trôi vào mùa mưa. Tổng lượng nước thải công nghiệp - dịch vụ được cấp phép xả thải tối đa năm 2018 là 85,6 triệu $m^3$.
    • Hoạt động san lấp và du lịch: Các dự án lấn biển (Công viên Đại dương, Shophouse Bến Đoan, đảo Tuần Châu) làm gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) và độ đục; nước thải la canh buồng máy, nước thải sinh hoạt từ tàu du lịch và nhà bè kinh doanh dịch vụ ăn uống tiềm ẩn nguy cơ phát tán dầu mỡ khoáng và chất hữu cơ.
  • Bộ máy quản lý: Cơ quan quản lý trực tiếp gồm Ban Quản lý vịnh Hạ Long (với 13 đơn vị trực thuộc, trong đó có Phòng Quản lý Môi trường thành lập năm 2009) và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh (với 3 đơn vị chuyên trách: Chi cục Bảo vệ Môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo, Trung tâm Quan trắc Môi trường).

Chương II: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể quy trình thu thập dữ liệu và kỹ thuật triển khai nghiên cứu:

  • Xác định đối tượng và phạm vi địa bàn nghiên cứu tại vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
  • Thiết lập quy trình nghiên cứu kết hợp: tổng quan tư liệu thứ cấp; khảo sát thực địa các nguồn thải, bến cảng, chợ ven biển; phỏng vấn cán bộ quản lý di sản; tiến hành điều tra xã hội học bằng bảng hỏi cấu trúc gồm 10 câu hỏi chia làm 2 phần (đánh giá chất lượng nước và đánh giá công tác quản lý) với cỡ mẫu 50 cư dân địa phương.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu hóa lý, vi sinh từ mạng lưới 43 điểm quan trắc định kỳ năm 2019 của cơ quan chức năng, đối chiếu trực tiếp với các ngưỡng giới hạn của QCVN 10-MT:2015/BTNMT.

Chương III: Kết quả và thảo luận

Chương III trình bày kết quả phân tích hiện trạng chất lượng nước, đánh giá thực trạng quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp:

Thông số quan trắc Vùng lõi (Bảo vệ tuyệt đối) Vùng đệm và dải ven bờ Đối chiếu QCVN 10-MT:2015/BTNMT
Kim loại nặng (Fe, Zn, Mn) Rất thấp, nằm hoàn toàn trong giới hạn cho phép Nồng độ thấp, có sự dao động nhẹ giữa các điểm nhưng đều đạt chuẩn Đạt quy chuẩn
Dầu mỡ khoáng Nồng độ thấp ở các điểm xa bờ Tăng cao tại các điểm neo đậu tàu thuyền và bến chợ; điểm sau chợ Hạ Long I đạt 0,75 mg/l Vượt ngưỡng tại điểm nóng ven bờ
Amoni ($NH_4^+$) Vượt ngưỡng 0,1 mg/l tại 5/6 trạm quan trắc Vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 6 lần tại các cửa cống và bến thuyền (D05, D08, D09, D11) Ô nhiễm dinh dưỡng cục bộ
Coliform Nằm trong ngưỡng an toàn Vượt ngưỡng quy chuẩn tại các cống xả; cao nhất tại điểm sau chợ Hạ Long I (2.116 MPN), khu nhà bè Cột 5 (1.755 MPN), cống Cột 3 (1.108 MPN) Ô nhiễm vi sinh nghiêm trọng tại dải ven bờ
  • Kết quả điều tra xã hội học:
    • Về chất lượng nước: 58% người dân nhận định chất lượng nước trong 5 năm gần đây chuyển biến tốt hơn, 26% cho rằng kém đi, 16% đánh giá không đổi. 46% người dân nhận thấy có hiện tượng ô nhiễm tại khu vực xung quanh với các dấu hiệu nhận biết chính: rác thải trôi nổi (78,2%), bốc mùi khó chịu (26%), biến đổi màu nước (21,7%).
    • Về công tác quản lý và sự tham gia cộng đồng: 64% người dân thỉnh thoảng tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, 14% tham gia thường xuyên, 22% không tham gia. Đánh giá về hiệu quả quản lý: 18% đánh giá hiệu quả cao, 54% đánh giá mức trung bình, 28% đánh giá kém hiệu quả.
    • Nguyên nhân quản lý kém hiệu quả: Người dân chỉ ra 3 nguyên nhân chính gồm: thiếu sự hợp tác giữa chính quyền và người dân (42,86%), thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực (35,71%), quản lý chồng chéo giữa các cơ quan (21,43%).
          ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI DÂN VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

          NGUYÊN NHÂN QUẢN LÝ KÉM HIỆU QUẢ (THEO DÂN CƯ)
  • Đánh giá kết quả quản lý thực tế: Ban Quản lý vịnh Hạ Long duy trì đội ngũ chuyên trách 10 cán bộ tại Phòng Quản lý Môi trường, trang bị 20 thiết bị và 40 máy móc quan trắc; hợp đồng với 2 doanh nghiệp vệ sinh thu gom hơn 728 tấn rác trôi nổi trong năm 2018; 100% tàu du lịch lắp đặt thiết bị phân ly dầu nước; triển khai dự án xử lý nước thải bằng công nghệ Jokaso (Nhật Bản) tại các điểm đảo; thực hiện dự án tàu thu gom rác dùng nhiên liệu sinh học do JICA tài trợ và dự án Liên minh Hạ Long - Cát Bà (IUCN/MCD).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:

    • Xác lập bức tranh hiện trạng chất lượng nước: Vùng lõi di sản giữ được chất lượng nước tương đối tốt, cơ bản đạt tiêu chuẩn bảo tồn thủy sinh nhưng đã có dấu hiệu ô nhiễm nhẹ Amoni ($NH_4^+$ vượt ngưỡng tại 5/6 trạm). Vùng đệm ven bờ (đoạn từ chợ Hạ Long I đến Cột 5) bị ô nhiễm hữu cơ, vi sinh và dầu mỡ cục bộ do tiếp nhận trực tiếp nước thải sinh hoạt đô thị chưa xử lý và nước thải từ hoạt động kinh doanh, tàu thuyền.
    • Định lượng hóa các nguồn gây áp lực môi trường: Khái quát cụ thể lưu lượng 15.298 $m^3$/ngày đêm nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý của TP. Hạ Long xả thẳng ra biển, 54,8 triệu $m^3$/năm nước thải mỏ than, 200 triệu $m^3$/năm đất đá thải mỏ, 505 tàu du lịch và hoạt động của hàng trăm bè nuôi trồng thủy sản.
    • Phân tích tương quan giữa số liệu kỹ thuật và cảm nhận xã hội học: Đưa ra bằng chứng thực nghiệm về sự trùng khớp giữa kết quả quan trắc lý hóa - vi sinh với cảm nhận trực quan của 50 người dân địa phương đối với các điểm nóng ô nhiễm rác thải và nước thải ven bờ.
  • Giải pháp do tác giả đề xuất:

    1. Tăng cường năng lực chuyên môn và cơ chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan chức năng, thành lập tổ công tác chung liên ngành để giám sát, tuần tra và xử phạt nghiêm các vi phạm môi trường.
    2. Nâng cấp hạ tầng thu gom và đẩy mạnh kiểm soát, giám sát các nguồn xả thải sinh hoạt đô thị, bảo đảm toàn bộ nước thải phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật trước khi đổ ra vịnh.
    3. Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư tài chính, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ công tác thu gom rác trôi nổi và xử lý môi trường tại các điểm du lịch.
    4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng và du khách; thiết lập các hình thức khen thưởng, động viên kịp thời các cá nhân, hộ gia đình tích cực tham gia bảo vệ môi trường vịnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Số liệu phân tích hóa lý và vi sinh chất lượng nước biển chủ yếu tập trung vào chu kỳ quan trắc của năm 2019, chưa bao quát chuỗi thời gian nhiều năm liên tục để đánh giá xu thế biến động dài hạn.
    • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn ($n = 50$), tập trung chủ yếu tại khu vực đô thị ven biển TP. Hạ Long, chưa mở rộng sang địa bàn TP. Cẩm Phả và huyện đảo Vân Đồn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng mạng lưới giám sát môi trường tự động, liên tục đối với các thông số dinh dưỡng và dầu mỡ tại dải ven bờ.
    • Nghiên cứu ứng dụng các mô hình lan truyền chất ô nhiễm trong môi trường nước biển dưới tác động của chế độ thủy triều và dòng chảy ven bờ vịnh Hạ Long.
    • Đánh giá sâu hơn về hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của các mô hình xử lý nước thải phân tán (công nghệ Jokaso, bãi lọc sinh học) áp dụng cho tàu du lịch và các điểm tham quan trên đảo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học thuộc các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường Biển đảo, Du lịch và Quản lý Di sản.
    • Cán bộ kỹ thuật và chuyên viên quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ven biển, các ban quản lý di sản, khu bảo tồn biển có điều kiện tương đồng.
  • Nội dung giá trị:
    • Cung cấp mô hình phương pháp luận kết hợp giữa chuỗi số liệu quan trắc hóa lý - vi sinh chuẩn tắc (theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT) với phương pháp điều tra xã hội học môi trường.
    • Hệ thống hóa các số liệu cơ sở về các nguồn thải công nghiệp than, nước thải đô thị, hoạt động du lịch và giao thông thủy tác động trực tiếp lên vịnh Hạ Long.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng quy chuẩn nào để đánh giá chất lượng nước biển vịnh Hạ Long?

Tác giả áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ (QCVN 10-MT:2015/BTNMT), trong đó phân định rõ: vùng bảo vệ tuyệt đối (vùng lõi) áp dụng ngưỡng giá trị giới hạn dành cho mục đích bảo tồn thủy sinh và nuôi trồng thủy sản; vùng đệm và vùng phụ cận áp dụng ngưỡng giá trị giới hạn quy định cho các mục đích khác. Đối với nước thải mỏ than, quy chuẩn đối chiếu là QCVN 40:2011/BTNMT.

2. Các thông số môi trường nào vượt ngưỡng cho phép tại khu vực ven bờ vịnh Hạ Long?

Kết quả quan trắc năm 2019 cho thấy các kim loại nặng (Fe, Zn, Mn) đều nằm trong ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, các thông số bị ô nhiễm cục bộ và vượt quy chuẩn gồm có:

  • Coliform: Vượt ngưỡng quy chuẩn tại các cửa cống ven bờ, cao nhất tại Sau chợ Hạ Long I (2.116 MPN), khu nhà bè Cột 5 (1.755 MPN) và cống thoát nước Cột 3 (1.108 MPN).
  • Amoni ($NH_4^+$): Vượt quy chuẩn từ 1,5 đến 6 lần tại các điểm xả thải ven bờ (D05, D08, D09, D11) và vượt ngưỡng 0,1 mg/l tại 5/6 trạm vùng lõi.
  • Dầu mỡ khoáng: Vượt ngưỡng tại điểm sau chợ Hạ Long I (đạt 0,75 mg/l).

3. Ước tính lượng nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý đổ ra vịnh Hạ Long mỗi ngày là bao nhiêu?

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh được tổng hợp trong khóa luận, tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị của TP. Hạ Long là khoảng 30.000 $m^3$/ngày đêm. Hệ thống 5 trạm xử lý nước thải của thành phố có tổng công suất thiết kế khoảng 15.000 $m^3$/ngày đêm (đáp ứng ~41–50% tổng lượng thải). Do đó, ước tính mỗi ngày đêm có ít nhất 15.298 $m^3$ nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường vịnh.

4. Kết quả khảo sát ý kiến người dân về công tác quản lý môi trường vịnh Hạ Long như thế nào?

Khảo sát 50 cư dân tại TP. Hạ Long ghi nhận: 58% đánh giá chất lượng nước 5 năm qua có chiều hướng tốt hơn; 46% nhận định khu vực xung quanh có ô nhiễm (chủ yếu là rác thải trôi nổi chiếm 78,2%). Về hiệu quả quản lý, chỉ có 18% người dân đánh giá đạt hiệu quả cao, 54% đánh giá mức trung bình và 28% đánh giá kém hiệu quả.

5. Nguyên nhân chính khiến công tác quản lý chất lượng nước chưa đạt hiệu quả cao là gì?

Theo kết quả điều tra xã hội học và phỏng vấn cán bộ chuyên trách, các nguyên nhân chính bao gồm:

  • Thiếu sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và cộng đồng người dân (42,86% ý kiến).
  • Hạn chế về nguồn lực tài chính, trang thiết bị kỹ thuật và nhân lực quản lý chuyên trách (35,71% ý kiến).
  • Tình trạng quản lý chồng chéo giữa các ban ngành chức năng (21,43% ý kiến).
  • Đặc thù không gian vịnh rộng lớn (1.553 $km^2$), chế độ hải văn phức tạp và chịu áp lực đồng thời từ nhiều ngành kinh tế (than, nhiệt điện, du lịch, cảng biển, san lấp đô thị).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Mạnh Cường đã phản ánh chi tiết hiện trạng chất lượng nước biển vịnh Hạ Long năm 2019, chỉ rõ nguy cơ ô nhiễm cục bộ về Amoni, Coliform và dầu mỡ tại dải ven bờ do áp lực nước thải đô thị và giao thông thủy. Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn diện về các nguồn thải công nghiệp than, du lịch, sinh hoạt, đồng thời phân tích thực trạng công tác quản lý môi trường và mức độ tham gia của cộng đồng địa phương. Các đề xuất về hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, kiểm soát nguồn thải ven bờ và tăng cường năng lực cộng đồng là cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ mục tiêu bảo vệ và phát triển bền vững di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.