CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước địa phương về môi trường đối với các cụm công nghiệp 1. Cụm công nghiệp a. Khái niệm về cụm công nghiệp Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm thu hút, di dời các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất kinh doanh; do UBND các tỉnh quyết định thành lập.
Cụm công nghiệp có quy mô diện tích không quá 50 ha. Trường hợp cần thiết phải mở rộng cụm công nghiệp hiện có thì tổng diện tích sau khi mở rộng cũng không vượt quá 75 ha [17]. Các đặc điểm cụm công nghiệp tại Việt Nam - Các cụm công nghiệp đã hoạt động và đang hình thành tại Việt Nam, đang có xu hướng hình thành và phát triển các cụm công nghiệp chuyên ngành, sản xuất vật liệu, dệt may, chế biến thực phẩm, sản xuất sản phẩm cơ khí chế tạo…. - Các cụm chuyên ngành công nghiệp chế tạo phần lớn thuộc lĩnh vực công nghệ cao, có hàm lượng chất xám khá, tỷ suất đầu tư lớn, lực lượng lao động có tay nghề cao, đã qua trường lớp đào tạo và do đó có hiệu quả hoạt động khá, có đóng góp lớn cho ngân sách địa phương.
Sản phẩm của nhiều Luan van 8 cụm công nghiệp cơ khí đã rất nổi tiếng và có giá trị lớn về nhiều mặt đối với sự phát triển kinh tế của địa phương như tàu vận tải đường biển, xe ôtô tải và xe chở khách. - Riêng đối với các cụm công nghiệp cơ khí, về mặt bằng sản xuất và lao động, các cụm công nghiệp cơ khí được chính quyền các cấp, nhân dân địa phương ủng hộ tạo điều kiện phát triển thuận lợi. Hệ số sử dụng đất công nghiệp đạt khá cao bởi các quy trình và thủ tục đầu tư được thực hiện nghiêm túc. Chủ đầu tư là nhà sản xuất lớn có thực lực về tài chính và công nghệ, được Chính phủ quan tâm lớn.
Các sản phẩm ở đây phần lớn đều thuộc sản phẩm trọng điểm quốc gia. Lực lượng lao động làm việc tại các cụm công nghiệp cơ khí có trình độ văn hóa khá, được tuyển chọn, đào tạo tốt, được trả lương và được doanh nghiệp quan tâm. Một số cụm công nghiệp khác có hệ số sử dụng đất thấp, một số doanh nghiệp ở các khu này để xảy ra đình công, bãi công gây ra hậu quả xấu đến phát triển kinh tế của cả nước nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng [17]. Phân loại cụm công nghiệp * Theo chức năng Có 4 loại hình cụm công nghiệp như sau: - Cụm công nghiệp tổng hợp (đa ngành): Là cụm công nghiệp được hình thành trên địa bàn các huyện, Thị xã và thành phố, tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp trong và ngoài địa phương thuộc các ngành nghề khác nhau.
- Cụm công nghiệp làng nghề: là cụm công nghiệp tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, TTCN và dịch vụ cho công nghiệp, TTCN thuộc một nhóm ngành nghề tương đối đồng nhất, gắn với những làng nghề sẵn có của địa phương, mục tiêu là phục vụ việc di dời các cơ sở sản xuất của làng nghề, xã nghề ở ngay tại địa phương, nhằm mở rộng Luan van 9 mặt bằng sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường của làng nghề. Các cụm công nghiệp làng nghề hầu như không có sự hiện diện của doanh nghiệp ngoài làng nghề. - Cụm công nghiệp chuyên ngành: là cụm công nghiệp tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ công nghiệp sản xuất cùng một ngành nghề trên địa bàn. - Cụm công nghiệp hiện đại: được phát triển như các khu công nghiệp, tập trung thu hút các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và dịch vụ công nghiệp có trình độ sản xuất cao, hiện đại, áp dụng các máy móc khoa học kỹ thuật tiên tiến.
* Theo chủ thể quản lý đầu tư xây dựng hạ tầng có 3 loại như sau : - Cụm công nghiệp do UBND cấp huyện (BQL các cụm công nghiệp) làm chủ đầu tư. - Cụm công nghiệp do UBND cấp xã, phường làm chủ đầu tư. - Cụm công nghiệp do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư. * Theo quy mô có 2 loại như sau : - Cụm công nghiệp dưới 50 ha.
- Cụm công nghiệp từ 50 ha trở lên và không quá 75 ha [17]. Quản lý nhà nước về môi trường đối với cụm công nghiệp a. Khái niệm quản lý môi trường Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành [1]. Luan van 10 Các nguyên tắc quản lý môi trường là các quy tắc chỉ đạo những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thể quản lý (các tổ chức, các cơ quan, các nhà lãnh đạo) phải tuân thủ trong suốt quá trình quản lý môi trường [1].
Các mục tiêu của quản lý môi trường Mục tiêu của quản lý môi trường là phát triển bền vững giữ được hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Hay nói một cách khác phát triển kinh tế để tạo ra kinh phí và tiềm lực để bảo vệ môi trường tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cơ bản của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay là: “Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường của những nơi, những vùng bị suy thoái bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nâng cao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững, nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân, tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Đối tượng quản lý môi trường: Điều tiết các lợi ích sao cho hài hòa trên nguyên tắc ưu tiên lợi ích của quốc gia, của toàn xã hội. - Mục tiêu của quản lý môi trường: + Một là: khắc phục và phòng chống suy thoái + Hai là: Phát triển bền vững theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững + Ba là: xây dựng các công cụ quản lý môi trường có hiệu lực quốc gia và các vùng lãnh thổ [1]. Cơ sở của quản lý môi trường - Cơ sở triết học Luan van 11 Trong triết học người ta bàn nhiều về nguyên lý thống nhất của thế giới vật chất, trong đó sự gắn bó chặt chẽ giữa tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống nhất, yếu tố con người giữ vai trò quan trong. Sự thống nhất của hệ thống được thực hiện trong các chu trình Sinh Địa hóa của 5 thành phần cơ bản: + Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của quá trình quang hợp.
+ Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn, tạo ra các chất thải, chúng chuyển thành các chất vô cơ đơn giản. + Con người và xã hội loài người + Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người với số lượng ngày càng tăng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải mang tính toàn diện và hệ thống. Con người cần phải nắm bắt cội nguồn của sự thống nhất đó, phải đưa ra được những phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nẩy sinh trong hệ thống.
Bởi lẽ con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất biện chứng giữa Tự nhiên – Con người – Xã hội. Chính vì vậy khoa học về quản lý môi trường hay sinh thái nhân văn chính là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống Tự nhiên – Con người – Xã hội. - Cơ sở khoa học, công nghệ của quản lý môi trường Khoa học về môi trường xuất hiện và được phát triển mạnh từ những năm 1960 trở lại đây, làm cơ sở cho nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm, phát hiện những nguyên lý môi trường giúp cho việc thực hiện quản lý môi trường. Nhờ những kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt Luan van 12 động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa.
Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới giúp cho việc Quản lý môi trường hiệu quả hơn. - Cơ sở kinh tế của hoạt động quản lý môi trường Hiện nay Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường mọi nguyên lý hoạt động được dựa trên cơ sở cung và cầu của thị trường, thông qua cạnh tranh, hoạt động phát triển và sản xuất của cái vật chất diễn ra dưới sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh, ngược lại những hàng hóa kém chất lượng và giá thành cao thì sẽ không có chỗ đứng.