Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHUYẾN CÔNG 1. Những khái niệm có liên quan đến đề tài 1. Khuyến công và vai trò của khuyến công 1. Khái niệm về khuyến công Ở Việt Nam, thuật ngữ khuyến công được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây khi nền kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng CNH-HĐH, nhất là CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn nhưng cho đến nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể.
Theo Nghị định 45/2004/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến công thay thế Nghị định 134/2004/NĐ-CP ngày 09/6/2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, khuyến công được hiểu là hoạt động khuyến khích, hướng dẫn, hỗ trợ và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sản xuất công nghiệp ở nông thôn [4]. Luận văn thạc sĩ Luật Học 1. Vai trò của khuyến công Trong quá trình CNH-HĐH đất nước ta, công nghiệp ở nông thôn đóng vai trò rất quan trọng, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của hoạt động khuyến công. Có thể nói, đến nay hoạt động khuyến công đã có tác dụng rõ nét đối với các ngành tiểu thủ công nghiệp khu vực nông thôn, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động nông thôn, sử dụng những tiềm năng sẵn có nhằm thúc đẩy phát triển CN-TTCN của địa phương.
Khuyến công có các vai trò cơ bản sau: Một là, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Từ khi có chương trình khuyến công, giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp tăng đáng kể, công nghiệp ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng cao, tạo được nhiều việc làm và tăng thu nhập cho đại bộ phận dân cư lao động. Giá trị sản xuất công nghiệp ở nông thôn liên tục gia tăng qua các năm, bình quân trong 05 năm (2011-2015) là 16,65%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân toàn ngành công 6 nghiệp. Số lượng cơ sở sản xuất công nghiệp ở nông thôn cũng tăng trung bình cả giai đoạn là 8,64%/năm. Từ năm 2011-2015, hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề đã gắn với giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho 176.181 lao động, chuyển một phần lao động từ nông nghiệp sang làm nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao, đặc biệt là ở những vùng kinh tế khó khăn [8].
Hai là, thúc đẩy khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống. Sự phát triển nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp ngày nay dựa trên sự phát triển đồng thời các loại hình kinh tế: Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là cơ sở công nghiệp nông thôn). Đây chính là những hạt nhân cho sự phát triển nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nghề, làng nghề và các cơ sở công nghiệp nông thôn trên cả nước vẫn ở mức độ thấp, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, theo hộ gia đình; khả năng tài chính yếu ớt; khả Luận văn thạc sĩ Luật Học năng tiếp cận thông tin khoa học công nghệ và thị trường còn nhiều hạn chế, dẫn đến kết quả sản xuất kinh doanh chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Để thực hiện nhiệm vụ khuyến khích phát triển nghề, làng nghề và các cơ sở công nghiệp nông thôn ở các địa phương, các tỉnh, thành trên cả nước đã thành lập các Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp trực thuộc Sở Công nghiệp (nay là Sở Công Thương). Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp là đơn vị hoạt động dịch vụ khuyến công, có chức năng và nhiệm vụ thực hiện mọi hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh, thành phố như: hướng dẫn, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân khởi sự doanh nghiệp; lập dự án đầu tư phát triển công nghiệp; tổ chức đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản lý, hợp lý hóa sản xuất, hạ giá thành sản phẩm; hỗ trợ cung cấp thông tin, tiếp thị, tìm kiếm thị trường; xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ… để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất CN-TTCN. Các hoạt động khuyến công bước đầu đã góp phần phát triển nghề, làng nghề tại các địa phương. Như vậy, vai trò của khuyến công đối 7 với sự phát triển nghề, làng nghề, các cơ sở công nghiệp nông thôn là rất quan trọng trong giai đoạn CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay.
Ba là, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập cho một bộ phận nhân dân, góp phần ổn định tình hình KT-XH của địa phương. Một trong những nội dung của hoạt động khuyến công là đào tạo nghề, hỗ trợ trang thiết bị phục vụ sản xuất. Trên cơ sở đó, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố chỉ đạo Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp tổ chức khảo sát các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn, triển khai hỗ trợ theo nhu cầu của từng đơn vị. Từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và địa phương, các Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp ở các tỉnh, thành phố đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức mở các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Kết quả cho thấy, công tác đào tạo nghề không những tạo việc làm, tăng thu nhập mà còn góp phần nâng cao tay nghề cho công nhân, giúp các cơ sở đẩy mạnh hiệu suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm. Từ năm 2011-2015, hoạt động đào tạo Luận văn thạc sĩ Luật Học nghề, truyền nghề đã gắn với giải quyết việc làm và tạo thu nhập ổn định cho 176.181 lao động nông thôn [8]. Bốn là, hỗ trợ cho cơ sở công nghiệp nông thôn trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. Cơ sở công nghiệp nông thôn ở các địa phương hiện nay đã và đang đóng góp không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Tuy nhiên, do các cơ sở công nghiệp nông thôn có quy mô nhỏ, mối liên kết giữa các cơ sở hạn chế nên là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng trong bối cảnh kinh tế có nhiều khó khăn hiện nay. Chính vì vậy, các địa phương rất chú trọng đến việc hỗ trợ cơ sở trong việc ổn định, duy trì sản xuất, tìm đầu ra cho sản phẩm. Từ năm 2011- tháng 6/2016, đã đào tạo khởi sự doanh nghiệp, đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho 34.482 học viên là các chủ cơ sở công nghiệp nông thôn [8]. Hoạt động khuyến công đã thể hiện vai trò là trợ thủ đắc lực cho cơ sở công nghiệp nông thôn.
Khi hoạt động khuyến công được triển khai thì loại hình cơ sở công nghiệp nông thôn này có một bệ đỡ vững chắc để tiếp tục quá trình phát triển 8 của mình, góp phần vào thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội mà các địa phương đã đề ra. Quản lý nhà nước về khuyến công 1. Khái niệm Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội, đây là một quá trình phức tạp, đa dạng; trong nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn. Quản lý nhà nước có 02 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp: + Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là toàn bộ mọi hoạt động của Nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước.
Chủ thể quản lý theo nghĩa rộng là tất cả các cơ quan Nhà nước của bộ máy Nhà nước gồm cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. + Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành Hiến pháp, Luật và điều hành trên cơ sở Hiến pháp và các luật đó, vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước. Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chính là nghĩa vốn có Luận văn thạc sĩ Luật Học của thuật ngữ “Quản lý nhà nước”. Chủ thể quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp chủ yếu là toàn bộ hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước đứng đầu là Chính phủ và các cơ quan phát sinh từ chúng, các cơ quan đơn vị, tổ chức và các cán bộ, công chức trực thuộc [28, tr.
Quản lý nhà nước Việt Nam là hoạt động quản lý Nhà nước theo nghĩa hẹp, hoạt động hành chính Nhà nước, hoạt động chấp hành và điều chỉnh của các cơ quan Nhà nước và những người có thẩm quyền hoặc các cơ quan của các tổ chức xã hội khi được trao quyền, được tiến hành trên cơ sở pháp luật để thi hành luật nhằm thực hiện hiệu quả các chức năng quản lý hành chính Nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: hành chính – chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội [29, tr. Trong luận văn này, tác giả sẽ phân tích Quản lý nhà nước về khuyến công theo nghĩa hẹp, tức là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền về khuyến công. Theo nghĩa này, quản lý nhà nước về khuyến công là sự quản lý bằng pháp luật của các cơ quan nhà nước có chức năng trong việc định hướng, tổ chức, vận hành hệ thống khuyến công từ Trung 9 ương tới địa phương hoạt động có hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong mỗi thời kỳ nhất định. Đặc điểm của quản lý nhà nước về khuyến công Quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, QLNN là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong QLNN trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể QLNN thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng. Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể QLNN được bảo đảm thực hiện để điều hòa phúc Luận văn thạc sĩ Luật Học lợi, khắc phục những nhược điểm của nền kinh tế thị trường.