Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Quản lý nhà nước về hộ tịch Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn UBND xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. MÞT SÞ VÂN Đ LÝ LUÀN C¡ BÀN V QUÀN LÝ NHÀ N£àC V HÞ TæCH T¾I Uþ BAN NHÂN DÂN CÂP Xà 1. Các khái niãm có liên quan 1.
Khái niệm hộ tịch <Hộ tịch= là một thuật ngữ quen thuộc trong đßi sống xã hội từ trước đến nay và là đối tượng nghiên cău cāa nhiều chuyên ngành khoa học khác nhau, trong đó có khoa học pháp lý. Hiện nay, vẫn còn tồn tại khá nhiều quan niệm khác về thuật ngữ <hộ tịch=. a) Xét dưới góc độ ngôn ngữ học <Hộ tịch= là một từ ghép Hán Việt, được ghép bái hai thành tố độc lập, trong đó <tịch= là thành tố chính, <hộ= là thành tố phÿ [12, tr7]. Khi cắt nghĩa từng thành tố, có thể thấy <tịch= có nghĩa là <sổ sách= hoặc <sổ đăng ký quan hệ lệ thuộc=.
Trong khi đó, <hộ= lại mang nghĩa trực tiếp là <dân cư= hay <nhà ở= hoặc hiểu theo nghĩa rộng hơn thì hộ là đơn vị để quản lý dân số gồm những ngưßi cùng ăn á với nhau. Tuy nhiên, khi ghép hai từ ngữ này lại với nhau tạo thành danh từ ghép <hộ tịch= lại có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Cÿ thể như sau: Theo tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển, hộ tịch là <Quyển sổ cāa Chính phā biên chép số người, chăc nghiệp và tịch quản cāa từng người=[1, tr384]. Cũng có quan điểm tương tự tác giả Đào Duy Anh, tác giả Bửu Kế trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên đưa ra giải thích về hộ tịch như sau: <Hộ tịch: quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp cāa mọi người trong một địa phương=[13, tr814].
Bên cạnh đó, cũng xuất hiện những quan niệm về hộ tịch mang ý nghĩa khác hẳn các tác giả nêu trên, như: Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Ý Như làm chā biên đưa ra giải thích về hộ tịch như sau: <Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống cāa một 7 người thuộc sự quản lý cāa pháp luật=[14, tr835]. Trong khi đó, trong cuốn Từ điển tưßng giải và liên tưáng Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Đạm giải thích hộ tịch theo một khía cạnh hoàn toàn khác so với các cách giải nghĩa trên: <Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận cāa một người tại nơi mình ở thường xuyên, cāa những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần=[9, tr385]. Có thể thấy, về mặt ngôn ngữ, có rất nhiều quan điểm, cách giải thích, cách tiếp cận khác nhau về khái niệm này qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, song điểm chung cāa chúng là: hộ tịch đều là những yếu tố, những sự kiện gắn liền với các giả trị nhân thân cāa con ngưßi. b) Xét dưới góc độ pháp lý Trong pháp luật Việt Nam, <hộ tịch= là thuật ngữ được nhìn nhận và xuất hiện trong các văn bản pháp lý cāa nước ta từ khá sớm.
Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc lựa chọn thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thuần Việt hơn, dể hiểu hơn. Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua quá trình lịch sử đã ăn sâu vào tiềm thăc cāa ngưßi dân nên thay vì lựa chọn giải pháp thay thế khái niệm, các nhà lập pháp cāa Việt Nam đã dung hoà bằng giải pháp sử dÿng khái niệm này với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa nó trong văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, Thuật ngữ hộ tịch được đề cập lần đầu tiên vào năm 1956, trong văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành đó là Nghị định số 764-TTg ngày 08/5/1956 cāa Thā tướng Chính phā về Ban hành điều lệ đăng ký hộ tịch. Tại thßi điểm này, hộ tịch được hiểu là <Những nguyên tắc và thā tÿc đăng ký các việc khai sinh, khai tử, kết hôn hay sửa chữa các điều đã đăng ký và ghi chú các việc thay đổi về hộ tịch cũng như cấp phát giấy chăng nhận cho việc đăng ký đó=[4].
Nghị định số 83/1998/NĐ-CP cāa Chính phā ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, đã có sự ghi nhận một cách đầy đā và toàn diện về khái niệm hộ tịch. 8 Theo đó, hộ tịch được giải thích <là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng thân nhân cāa một người từ khi sinh ra đến khi chết=[5]. Ngoài ra, khái niệm hộ tịch còn quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ- CP ngày 27/12/2005 cāa Chính phā về đăng ký và quản lý hộ tịch thay thế Nghị định số 83/1998/NĐ-CP. Kế thừa và phát huy những khái niệm từ các quy định trước, hiện nay Luật Hộ tịch 2014 quy định về <Hộ tịch= như sau: <Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 cāa Luật này, xác định tình trạng thân nhân cāa cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết=[15].
Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 chăa đựng các thông tin về nội dung đăng ký hộ tịch. Như vậy, đi kèm với khái niệm về <hộ tịch= là khái niệm <đăng ký hộ tịch=. Theo đó, pháp luật hiện hành ghi nhận tại Khoản 2 Điều 2 Luật Hộ tịch 2014: <Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch cāa cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, thực hiện quản lý dân cư=[15]. Từ khái niệm trên cho thấy, khi phát hiện sự kiện hộ tịch cāa cá nhân (như sinh, tử, kết hôn…) thì cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải đăng ký kịp thßi sự kiện hộ tịch đó và đồng thßi ngưßi dân cũng phải có trách nhiệm đi đăng ký hộ tịch trong thßi hạn pháp luật quy định.
Tóm lại, thông qua việc phân tích khái niệm hộ tịch dưới góc độ pháp lý và góc độ ngôn ngữ trên phạm vi Việt Nam và thế giới, quan điểm cāa tác giả về khái niệm này như sau: <Hộ tịch được hiểu là những sự kiện pháp lý được ghi nhận cÿ thể như: sự kiện sinh; tử; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; nhận nuôi con nuôi; thay đổi, cải chính, bổ sung thông tin hộ tịch; xác định lại dân tộc… nhằm xác định tình trạng nhân thân cāa một cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký theo quy định pháp luật=. Từ các khái niệm nêu trên, có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản về hộ tịch: Thă nhất, hộ tịch bao gồm tổng thể sự kiện pháp lý gắn liền các yếu tố 9 nhân thân cāa mỗi cá nhân. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi cá nhân đều có các thông tin hộ tịch khác nhau dựa trên các yếu tố: tên tuổi, cha, mẹ, vợ, chồng, dân tộc giới tính… Thông qua các sự iện hộ tịch có thể xác định chính xác tình trạng nhân thân cāa một cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết. Thă hai, hộ tịch gắn liền với các giá trị nhân thân cāa cá nhân mang tính bền vững và không thể chuyển giao được.
Thă ba, mọi sự kiện hộ tịch cāa cá nhân đều được đăng ký và quản lý tập trung, thống nhất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch 1. Khái niệm Quản lý là hoạt động mang tính chất đặc thù trong đßi sống xã hội, là sự tác động có mÿc đích cāa các chā thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Với mÿc đích là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung cāa con ngưßi, phối hợp riêng lẻ cāa từng cá nhân thành hoạt động chung thống nhất cāa cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mÿc tiêu đã định trước.
Quản lý nhà nước xuất hiện ngay khi nhà nước ra đßi. Để thực hiện chăc năng cāa mình, nhà nước thực hiện hoạt động quản lý trên tất cả các lĩnh vực. Theo đó, quản lý nhà nước về lĩnh vực hộ tịch là một trong những hoạt động cāa quản lý hành chính nhà nước. Quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động quản lý nhà nước do các chā thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sá pháp luật về hộ tịch.
à nước ta, hoạt động quản lý hộ tịch đã tồn tại rất lâu, tuy nhiên, khái niệm quản lý hộ tịch mới chỉ được đề cập lần đầu tiên trong Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 1998 cāa Chính phā về đăng ký hộ tịch. Theo Nghị định này, Quản lý nhà nước về hộ tịch được hiểu là: <công việc thường xuyên cāa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện để theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cāa cá nhân, tổ chăc, tại cơ sở xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc 10 phòng và chính sách dân số, kế hoạch hoá gia đình=[5]. Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản như sau <Quản lý hộ tịch là nhiệm vÿ quan trọng, thường xuyên cāa chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp cāa cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình=. Luật Hộ tịch hiện hành mặc dù không đề cập cÿ thể khái niệm quản lý hộ tịch, tuy nhiên khi nghiên cău nhận thấy luật quy định rất chi tiết về đăng ký hộ tịch và nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch.