Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH 1. Khái niệm hộ tịch Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính phụ, đƣợc ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố chính, “hộ” là thành tố phụ. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy, các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này. Theo đó từ “hộ” có nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng trong đó có một nghĩa trực tiếp là “dân cƣ” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những ngƣời cùng ăn ở với nhau”.
Tƣơng tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “ sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành danh từ ghép “hộ tịch” lại là một trƣờng hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ dẫn đến có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch”. Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt từ điển xuất bản năm 1960 nhƣ sau: “Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [21, tr. Cũng có quan điểm tƣơng tự với tác giả Nguyễn Văn Khôn, tác giả Hoàng Thúc Trâm cũng nêu khải niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt tân từ điển xuất bản năm 1974 là: “Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [36, tr.
Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989: 7 “Hộ tịch: Quyển sổ ghi chép tên tuổi, quê quán, nghề nghiệp của mọi người trong một địa phương” [22, tr. Trong cuốn Giản yếu Hán - Việt từ điển xuất bản năm 1992, tác giả Đào Duy Anh trình bày cách hiểu của mình đối với từ ghép “hộ tịch” là: “Hộ tịch: quyển sổ của Chính Phủ biên chép số người, chức nghiệp và tịch quán của từng người” [1, tr. Hoặc là trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ nguyên xuất bản năm 1999 của tác giả Bửu Kế, “hộ tịch” đƣợc hiểu là “Sổ sách ghi chép tên, họ, nghề nghiệp dân cư ngụ trong xã phường” [18, tr. Có thể nhận thấy cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Bửu Kế, Nguyễn Lân, Hoàng Thúc Trâm tuy rằng khác nhau về cách diễn đạt nhƣng đều giải nghĩa “hộ tịch” có nét khá tƣơng đồng: “hộ tịch” là quyển số chứa đựng các thông tin cơ bản của cá nhân nhƣ họ, tên, nghề nghiệp, quê quán.
Bên cạnh đó, một số từ điển lại giải nghĩa từ “hộ tịch” ở những khía cạnh khác hẳn, chẳng hạn nhƣ: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm 1998, từ ghép “hộ tịch” đƣợc giải nghĩa là: “Hộ tịch: sổ của cơ quan dân chính đăng kí cư dân trong địa phương mình theo từng hộ” [26, tr.442] Một cách hiểu khác về “hộ tịch” đƣợc tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998 đó là: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr. Đặc biệt là trong cuốn Từ điển tƣờng giải và liên tƣởng Tiếng Việt do Nhà xuất bản văn hóa thông tin xuất bản năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Đạm giải hiểu “hộ tịch” theo một khía cạnh hoàn toàn khác so với các cách giải nghĩa trên: 8 “Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [14, tr. Nhƣ vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về khía cạnh xã hội còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trình bày trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr.
Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dƣới chế độ Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau: Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là ngƣời đầu tiên trình bày quan niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo Hộ tịch chỉ nam xuất bản năm 1958 nhƣ sau: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử" [36, tr. Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa khác về khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến luật xuất bản năm 1968 nhƣ sau: "Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử" [24, tr.
Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lƣợc giải xuất bản năm 1965 - vốn đƣợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành pháp lý đầu tiên - không đƣa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa khái niệm “chứng thƣ hộ tịch”: Chứng thƣ hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh 9 một cách chính xác thân trạng ngƣời ta nhƣ ngày tháng sanh, tử, giá thú, họ tên, con trai con gái, con chính thức hay con tƣ sanh, tƣ cách vợ chồng. tóm lại tình trạng xã hội của con ngƣời từ lúc sinh ra đến khi chết. Các sổ sách hộ tịch ghi lại mọi việc sanh, tử, giá thú và các việc thay đổi về thân trạng ngƣời ta (nhìn nhận con ngoại hôn, chính thức hoá con tƣ sinh, khƣớc từ phụ hệ, ly thân. Chứng thƣ hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh một cách chính xác thân trạng của một ngƣời nhƣ ngày tháng sinh, tử, giá thú, họ tên, con trai, con gái, tƣ cách vợ chồng… tóm lại tình trạng xã hội của con ngƣời từ lúc sinh ra đến khi chết.
Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy các tác giả tuy đƣa ra những cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hộ tịch nhƣng trong những cách định nghĩa này đều chỉ ra những dấu hiệu đặc trƣng của hộ tịch: Thứ nhất, hộ tịch là việc ghi chép các quan hệ gia đình của một ngƣời; Thứ hai, các quan hệ gia đình thuộc phạm vi quan tâm của hộ tịch phải là những quan hệ phát sinh trên cơ sở ba sự kiện quan trọng trong cuộc đời của mỗi con ngƣời, đó là: sự kiện sinh, hôn nhân và tử; Thứ ba, chứng thƣ hộ tịch là loại giấy tờ pháp lý có giá trị chứng minh chính xác các đặc điểm nhân thân cơ bản của một cá nhân. Khái niệm “hộ tịch” là một trƣờng hợp đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt. Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa một cách rõ ràng, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trên thực tế, đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn.
Tuy nhiên, do khái niệm này, trải qua một quá trình lịch sử đã dần trở thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi 10 tìm khái niệm Việt hoá thay thế không đƣợc lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tƣ cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản. Theo đó, quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch thì: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”. Trƣớc khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đƣa ra khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 nhƣ sau: 1.
Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Việc đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mỗi ngƣời. Việc đăng ký hộ tịch đƣợc thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật về hộ tịch quy định [33, Điều 54]. Nghị định 158/2005/NĐ-CP tiếp tục sử dụng khái niệm “hộ tịch” đã đƣợc định nghĩa trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ƣớc định. Về giá trị biểu đạt, với cách định nghĩa nhƣ vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “hộ tịch”. Bên cạnh đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chƣa xác định đƣợc rõ ràng nội hàm của khái niệm nên cùng với khái niệm “hộ tịch”, Nghị định 158/2005/NĐ-CP còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” bằng phƣơng pháp mô tả nhƣ sau: 11 Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền: a) Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc; b) Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền, ghi vào sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi [6].