CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH 1. Lý luận chung về quản lý Nhà nước về du lịch 1. Khái niệm về quản lý Nhà nước Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. Quản lý bao gồm các yếu tố sau: – Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. – Khách thể quản lý: chịu sự tác động hay chịu sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người và các quá trình xã hội.
– Đối tượng quản lý: tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. – Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Quản lý là một hoạt động phức tạp và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Các yếu tố đó là: con người; hệ thống và tư tưởng chính trị; tổ chức; thông tin; văn hóa… Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế 8 – xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Trên cơ sở những lý luận thì quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Khái niệm về du lịch Ngày nay, du lịch là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống con người, ngoài ra chúng đã, đang và tiếp tục trở thành lĩnh vực kinh doanh, dịch vụ quan trọng trong nền kinh tế ở hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới.
Cùng với sự phát triển của du lịch, khái niệm du lịch được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ xem xét. Theo trang tin điện tử: Tổng quan về du lịch Việt Nam, danh lam thắng cảnh đưa ra lý luận và phân tích khái niệm về du lịch dưới góc độ nhìn nhận của các nhà khoa học, như sau: Vào năm 1941, W. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa: Du lịch là tổng hợp những và các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến. Theo Guer Freuler, du lịch là một hiện tượng thòi đại của chúng ta dựa ứên sự tăng trưởng của nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên.
Theo nhà kinh tế Kalisiotis, du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thoa mãn nhu cấu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế. Coltman, du lịch là tổng thể những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, nhà kinh doanh du lich, chính quyền sở tai và cồng đồng cu dàn địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lịch. Với cách tiếp cận tổng hợp ấy, các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch bao gồm: - Khách du lịch; - Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; - Chính quyền sở tại; - Cộng đồng dân cư địa phương. Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới: Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến không phải là nơi làm việc của họ. Tại Việt Nam, mặc dù du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng đưa ra các khái niệm xét trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Luật Du lịch được Quốc hội thông qua năm 2005 đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [9, tr. Ở từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, hiểu về du lịch trên hai quan điểm: Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.
Theo nghĩa này, du 10 lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch. Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; cố thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế. Quản lý Nhà nước về du lịch 1.
Khái niệm Quản lý Nhà nước về du lịch là quá trình tác động của Nhà nước đến du lịch thông qua các công cụ quản lý nhằm mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tinh thần của chức năng người cũng như phát triển du lịch đúng định hướng của Nhà nước, tạo nên sự công bằng trong hoạt động du lịch để du lịch thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở dử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập quốc tế. Chức năng quản lý Nhà nước về du lịch Du lịch là ngành kinh tế tương đối mới mẻ đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với nước ta. Tuy nhiên, đây là một ngành kinh doanh dịch vụ đặc biệt mang tính chiến lược (ngành mũi nhọn) trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước. Do vậy quản lý nhà nước về du lịch có vai trò rất quan trọng, vì quản lý có chức năng định hướng, tạo điều kiện, hỗ trợ để du lịch phát triển hiệu quả, phát huy được mọi tiềm năng du lịch sẵn có về du lịch, thu hút ngày càng đông lượng khách du lịch, tạo việc làm và tăng thu nhập cho đông đảo người lao động, đồng thời tăng thu nhập cho đông đảo người lao động, đồng thời tăng thu ngân sách cho Nhà nước.
Quản lý nhà nước về Du lịch là quá trình tác động của Nhà nước đến 11 Du lịch thông qua hệ thống văn bản pháp luật với mục tiêu phát triển du lịch đúng định hướng, tạo nên một trật tự trong phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Đối tượng của hoạt động quản lý đó chính là hoạt động du lịch, cơ quan tổ chức các hoạt động du lịch và cả du khách. - Chức năng hoạch định: Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định chiến lược để định hướng hoạt động du lịch, xác lập các chương trình, đề án, cụ thể hóa các chiến lược, đặc biệt là lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế. Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo khuôn khổ pháo lý cho họt động du lịch.
- Chức năng tổ chức và phối hợp: bằng việc tạo ra các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý về du lịch, Nhà nước sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật. đồng thời thực hiện những vấn đề thuộc về quản lý nhà nước nhằm đưa ra các chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Hình thành cơ chế phối hợp quản lý hiện hữu từ trung ương đến địa phương trong quản lý du lịch thành phố, huyện, thị xã. Trong khu vực quốc tế thì chức năng này thể hiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ song phương, hoặc trong cùng một khối kinh tế, thương mại du lịch nhằm đang dạng hóa, đang phương thức các quan hệ hợp tác trong hoạt động du lịch nhằm đạt được các mục tiêu trong cam kết sẵn có.
- Chức năng điều tiết các hoạt động du lịch và tác động thị trường: Nhà nước hướng dẫn và kích thích các doanh nghiệp du lịch hoạt động theo định hướng đã vạch ra. Can thiệp và điều tiết thị trường nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Nhà nước dùng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điều tiết can thiệp thị trường và hoạt động kinh doanh du lịch, xử lý đúng đắn các quan hệ trao đổi. 12 Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn, thông tin tài chính, kết cấu hạ tầng của thị trường và bảo đảm kinh doanh du lịch đúng pháp luật nhằm tránh thất thoát, và sinh lợi cho người hoạt động du lịch, tăng thu cho ngân sách nhà nước.
- Chức năng kiểm soát: Giám sát các hoạt động của mọi chủ thể theo gia hoạt động kinh doanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó. Cấp và thu hồi giấy phép trong hoạt động kinh doanh du lịch. Phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm phấp luật và những quy định của nhà nước.