Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có 5.411 làng nghề và làng có nghề, trong đó có 1.864 làng nghề truyền thống và 115 nghề truyền thống đã được công nhận chính thức. Tại khu vực đồng bằng sông Hồng, huyện Gia Lâm thuộc thành phố Hà Nội giữ vị trí cửa ngõ giao thương trọng điểm với 10 trên tổng số 22 xã, thị trấn có nghề truyền thống và nghề mới, chiếm tỷ lệ 45,4%. Trong số đó, 5 làng nghề tiêu biểu đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội công nhận làng nghề truyền thống từ năm 2009, bao gồm gốm sứ Bát Tràng, gốm sứ Giang Cao, gốm sứ Kim Lan, dát vàng bạc quỳ và may da Kiêu Kỵ, chế biến dược liệu Ninh Hiệp. Tính đến năm 2017, các làng nghề trên địa bàn huyện quy tụ 196 doanh nghiệp và 2.234 hộ cá thể tham gia sản xuất kinh doanh, thu hút trên 18.000 lao động thường xuyên. Riêng năm 2016, điểm du lịch Bát Tràng đã đón tiếp 2.046 đoàn khách với tổng cộng 22.213 lượt khách tham quan trong nước và quốc tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự thiếu đồng bộ trong công tác quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề, dẫn đến tình trạng phát triển tự phát, ô nhiễm môi trường và thiếu hạ tầng kết nối. Mục tiêu của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng quản lý nhà nước về du lịch làng nghề tại huyện Gia Lâm giai đoạn 2015 - 2017, phân tích các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý giai đoạn 2020 - 2025, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu được thực hiện chuyên sâu tại 3 xã đại diện: Bát Tràng, Kiêu Kỵ và Ninh Hiệp trong khung thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 10/2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng tỷ trọng ngành thương mại và dịch vụ từ mức 30,6% năm 2015 lên 35,0% năm 2017, đồng thời gia tăng thu nhập bình quân đầu người vượt mức 32,8 triệu đồng/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế du lịch căn cứ theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo đó, quản lý nhà nước về du lịch làng nghề tại cấp địa phương bao gồm 4 vai trò trụ cột: định hướng chiến lược, tổ chức phối hợp liên ngành, điều tiết can thiệp thị trường và thanh tra, giám sát thực thi pháp luật.

Mô hình nghiên cứu kết hợp lý thuyết du lịch văn hóa cộng đồng và mô hình Mỗi làng một sản phẩm (One Tambon One Product - OTOP của Thái Lan, phát triển từ phong trào One Village One Product - OVOP khởi xướng tại Nhật Bản năm 1979). Mô hình này nhấn mạnh nguyên tắc khai thác nguồn lực bản địa kết hợp tiêu chuẩn hóa sản phẩm và xây dựng chuỗi giá trị du lịch trải nghiệm. Khung phân tích làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Làng nghề truyền thống: Không gian cư trú và sản xuất có lịch sử lâu đời, lưu giữ bí quyết kỹ thuật và văn hóa đặc trưng.
  • Du lịch làng nghề: Loại hình du lịch văn hóa tổng hợp kết hợp giá trị vật thể (di tích, đình, chùa, xưởng nghề) và phi vật thể (kỹ năng chế tác, lễ hội tổ nghề).
  • Quản trị công địa phương: Năng lực điều hành, ban hành quy hoạch, chính sách ưu đãi đất đai và hỗ trợ khuyến công của chính quyền cấp huyện, xã.
  • Chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch làng nghề: Mối liên kết giữa chính quyền, hộ sản xuất, nghệ nhân, doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát điển hình tại 3 điểm nghiên cứu tiêu biểu đại diện cho các nhóm ngành nghề: gốm sứ Bát Tràng (du lịch trải nghiệm chuyên sâu), dát vàng bạc quỳ và may da Kiêu Kỵ (thủ công mỹ nghệ tinh xảo), thuốc nam thuốc bắc Ninh Hiệp (chế biến dược liệu kết hợp thương mại vải vóc). Cỡ mẫu điều tra sơ cấp gồm 150 mẫu, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên, bao gồm cán bộ quản lý cấp huyện và xã (15 người), các doanh nghiệp và hộ sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia du lịch (75 hộ), các hộ sản xuất không tham gia du lịch (30 hộ), cùng khách du lịch nội địa và quốc tế (30 người). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện đa chiều giữa chủ thể quản lý, đối tượng cung ứng dịch vụ và đối tượng thụ hưởng.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Niên giám thống kê huyện Gia Lâm, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm, Phòng Kinh tế, Phòng Văn hóa - Thông tin giai đoạn 2015 - 2017. Các phương pháp phân tích định tính và định lượng bao gồm: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh tương đối và tuyệt đối, phương pháp phân tích thể chế, phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia (Key Informant Panel - KIP) và ma trận đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT). Quá trình xử lý và phân tích số liệu hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ phát triển du lịch giữa các làng nghề có sự phân hóa rõ rệt và còn mang tính tự phát. Làng gốm sứ Bát Tràng đã hình thành tuyến du lịch hoàn chỉnh với 48 nghệ nhân, thu hút 22.213 du khách trong năm 2016. Ngược lại, làng nghề Kiêu Kỵ với 350 cơ sở sản xuất, 2.500 lao động và 10 nghệ nhân, cùng làng nghề dược liệu Ninh Hiệp với hơn 3.000 lao động, hầu như chưa xây dựng được chương trình du lịch bài bản mà chủ yếu phục vụ khách mua sắm đơn lẻ.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Tổng chiều dài mạng lưới giao thông tại 20 xã của huyện đạt 911,05 km. Tuy nhiên, tỷ lệ đường trải nhựa hoặc bê tông hóa mới đạt 441,08 km, tương đương 48,42%. Trong số đường đã cứng hóa, có tới 54,68% (241,17 km) đã xuống cấp, trong khi 469,97 km (chiếm 51,58%) vẫn là đường cấp phối hoặc đường đất. Tình trạng này gây khó khăn lớn cho việc vận chuyển các đoàn khách bằng xe du lịch cỡ lớn.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế địa phương ghi nhận sự tăng trưởng ổn định nhưng tỷ trọng dịch vụ du lịch trực tiếp chưa tương xứng. Tổng giá trị sản xuất toàn huyện tăng từ 8.163,5 tỷ đồng năm 2015 lên 10.540,9 tỷ đồng năm 2017, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,29%/năm. Ngành thương mại - dịch vụ tăng nhanh nhất với tốc độ 15,38%/năm, nâng tỷ trọng từ 30,6% lên 35,0%. Dẫu vậy, doanh thu từ các dịch vụ lưu trú, trải nghiệm văn hóa và ăn uống phục vụ du lịch làng nghề chỉ đóng góp một phần nhỏ trong cơ cấu kinh tế hộ.

Thứ tư, nguồn nhân lực quản lý và thực thi du lịch tại chỗ còn thiếu chuẩn hóa. Số lượng cán bộ văn hóa cấp xã được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch dưới 20%. Công tác kiểm tra, thanh tra còn thưa thớt, hoạt động quảng bá phụ thuộc chủ yếu vào các hộ gia đình tự giới thiệu sản phẩm trực tiếp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ việc chính quyền địa phương chưa ban hành đề án quy hoạch tổng thể phát triển du lịch làng nghề tầm trung và dài hạn. Các chính sách trước đây phần lớn tập trung vào hỗ trợ mặt bằng cụm công nghiệp tiểu thủ công nghiệp và vốn vay khuyến công thay vì đầu tư hệ thống dịch vụ gia tăng cho du lịch.

Khi so sánh với mô hình làng lụa Vạn Phúc (quận Hà Đông) – nơi được thành phố Hà Nội quy hoạch đồng bộ trên diện tích 51,6 ha theo Kế hoạch 207/KH-UBND và tổ chức 12 lớp đào tạo nghiệp vụ lữ hành, hay mô hình OTOP Thái Lan với hơn 36.000 nhóm sản phẩm được chuẩn hóa quốc tế, công tác quản lý tại huyện Gia Lâm vẫn thiếu cơ chế điều phối liên vùng.

Các dữ liệu thực trạng về phân bổ hạ tầng (48,42% đường cứng hóa so với 51,58% đường cấp phối) và tốc độ chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (ngành thương mại - dịch vụ đạt 3.693,5 tỷ đồng năm 2017) nếu được mô hình hóa qua biểu đồ cột chồng và biểu đồ tròn sẽ phản ánh trực quan sự cấp thiết phải tái cấu trúc nguồn vốn đầu tư công, ưu tiên hoàn thiện mạng lưới giao thông kết nối các trục du lịch văn hóa tâm linh sông Hồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm và các cơ quan chuyên môn cần triển khai 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện quy hoạch không gian du lịch làng nghề: Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm chủ trì phối hợp với Sở Du lịch Hà Nội xây dựng đồ án quy hoạch không gian du lịch làng nghề gắn kết 3 cụm Bát Tràng, Kiêu Kỵ và Ninh Hiệp hoàn thành trước năm 2022. Mục tiêu dành tối thiểu 15% quỹ đất tại các cụm làng nghề để bố trí bãi đỗ xe đạt chuẩn, nhà đón tiếp, trung tâm trưng bày sản phẩm OTOP và nhà vệ sinh công cộng phục vụ khách du lịch.

  2. Nâng cấp hạ tầng giao thông và kiểm soát ô nhiễm môi trường: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện thực hiện bê tông hóa, nhựa hóa 100% đối với 241,17 km đường giao thông xuống cấp và 469,97 km đường cấp phối tại các xã làng nghề trong giai đoạn 2021 - 2025. Đồng thời, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện thiết lập trạm quan trắc tự động, hỗ trợ 100% cơ sở sản xuất gốm sứ chuyển đổi sang công nghệ lò nung khí hóa lỏng thân thiện với môi trường, giảm thiểu 80% phát thải bụi và khí độc hại.

  3. Chuẩn hóa nguồn nhân lực và kỹ năng làm du lịch: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện phối hợp các trường đại học, viện nghiên cứu tổ chức tối thiểu 10 khóa tập huấn nghiệp vụ du lịch mỗi năm giai đoạn 2020 - 2025. Chỉ tiêu bồi dưỡng đạt 100% cán bộ phụ trách văn hóa cấp xã và trên 500 chủ hộ sản xuất về nghiệp vụ lễ tân, thuyết minh điểm đến, kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ và văn hóa kinh doanh.

  4. Mở rộng xúc tiến thương mại và bảo hộ sở hữu trí tuệ: Phòng Kinh tế huyện làm đầu mối liên kết với các hiệp hội du lịch và doanh nghiệp lữ hành đưa ít nhất 3 tour du lịch chuyên đề Bát Tràng - Kiêu Kỵ - Ninh Hiệp vào hệ thống tour cố định của Hà Nội trước năm 2023. Đẩy mạnh việc cấp nhãn hiệu chứng nhận tập thể cho 100% sản phẩm quỳ vàng Kiêu Kỵ, dược liệu Ninh Hiệp, tích hợp mã QR truy xuất nguồn gốc trên nền tảng thương mại điện tử.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp quận, huyện: Cung cấp khung lý thuyết, bộ chỉ tiêu đánh giá thực chứng và các giải pháp mẫu để xây dựng nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế du lịch nông thôn, quy hoạch đất đai và bảo tồn làng nghề truyền thống.

  2. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công, Du lịch học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học với hệ thống dữ liệu sơ cấp, thứ cấp phong phú, minh họa phương pháp phân tích thể chế và vận dụng ma trận SWOT trong nghiên cứu quản lý nhà nước cấp cơ sở.

  3. Hiệp hội làng nghề, hợp tác xã và các chủ cơ sở sản xuất kinh doanh: Giúp các chủ thể nắm bắt xu hướng trải nghiệm của du khách, từ đó chủ động chuyển đổi mô hình từ bán sản phẩm đơn thuần sang kinh doanh dịch vụ du lịch trải nghiệm sáng tạo.

  4. Các công ty lữ hành và nhà đầu tư phát triển du lịch: Hỗ trợ khảo sát tài nguyên văn hóa, đánh giá năng lực đón tiếp thực tế của từng làng nghề để thiết kế các tour du lịch sinh thái - làng nghề - tâm linh liên vùng hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thực trạng phát triển du lịch tại các làng nghề huyện Gia Lâm diễn ra như thế nào?
    Hoạt động du lịch phân bố không đồng đều giữa các xã. Trong khi Bát Tràng đã tổ chức thành công tuyến du lịch với 2.046 đoàn khách năm 2016, thì tại Kiêu Kỵ (350 cơ sở sản xuất) và Ninh Hiệp (3.000 lao động), du lịch vẫn mang tính tự phát, thiếu trạm thông tin và chưa có sản phẩm du lịch trải nghiệm chuyên nghiệp.

  2. Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý nhà nước về hạ tầng du lịch tại Gia Lâm là gì?
    Đó là chất lượng mạng lưới giao thông nông thôn. Toàn huyện có 911,05 km đường giao thông nông thôn nhưng tỷ lệ cứng hóa mới đạt 48,42%, trong đó 241,17 km đường nhựa và bê tông đã xuống cấp nghiêm trọng, gây cản trở lớn cho việc tiếp cận của các phương tiện chở khách lữ hành.

  3. Luận văn đã vận dụng bài học kinh nghiệm quốc tế nào cho phát triển du lịch làng nghề?
    Luận văn đúc kết bài học từ phong trào OVOP của Nhật Bản và mô hình OTOP của Thái Lan với hơn 36.000 nhóm sản phẩm. Các mô hình này chỉ ra rằng Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo thông qua chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng thương hiệu quốc gia và hỗ trợ kênh xúc tiến xuất khẩu tại chỗ qua du lịch.

  4. Những yếu tố chủ quan nào tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch làng nghề?
    Bốn yếu tố chủ quan cốt lõi gồm: chất lượng quy hoạch và chính sách hỗ trợ của chính quyền, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ văn hóa xã, tính kỷ luật trong quản lý trật tự xây dựng làng nghề, và sự chủ động liên kết giữa chính quyền địa phương với các doanh nghiệp lữ hành.

  5. Mục tiêu phát triển du lịch làng nghề huyện Gia Lâm đến năm 2025 và 2030 là gì?
    Mục tiêu trọng tâm là hoàn thành quy hoạch không gian du lịch cho 100% làng nghề truyền thống, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng tỷ trọng thương mại - dịch vụ trên 40%, nâng cao thu nhập bình quân đầu người vượt mức 50 triệu đồng/năm và xây dựng Bát Tràng thành trung tâm du lịch gốm sứ đạt chuẩn quốc tế.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với du lịch làng nghề, khẳng định vai trò điều tiết vĩ mô của chính quyền cấp huyện trong phát triển kinh tế địa phương.
  • Phân tích thực trạng 5 làng nghề truyền thống tại Gia Lâm, chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa Bát Tràng (đón 22.213 khách năm 2016) và các làng nghề Kiêu Kỵ, Ninh Hiệp.
  • Đánh giá toàn diện các rào cản hạ tầng với 51,58% đường giao thông chưa kiên cố hóa, làm cơ sở thực chứng vững chắc cho việc lập kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch không gian, nâng cấp hạ tầng, đào tạo nhân lực và xúc tiến thương mại sở hữu trí tuệ cho giai đoạn 2020 - 2025, định hướng 2030.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền huyện Gia Lâm khẩn trương ban hành Đề án phát triển du lịch làng nghề bền vững, phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội nghề nghiệp nhằm khai thác tối đa tiềm năng kinh tế di sản.