phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về dịch vụ viễn thông công ích ở nước ta. LUAN VAN CHAT LUONG download10: add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DỊCH VỤ VIỄN THÔNG CÔNG ÍCH 1. Dịch vụ viễn thông công ích 1. Khái niệm dịch vụ viễn thông công ích Khái niệm về viễn thông ―Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác‖ [26, điều 3, khoản 1].
Viễn thông chiếm phần chủ đạo trong truyền thông. Truyền thông gồm có truyền thông cơ học (bưu chính) và truyền thông điện (viễn thông): quá trình phát triển từ dạng cơ học sang dạng điện/quang và ngày càng sử dụng những hệ thống điện/quang phức tạp hơn. Truyền thông cơ học (thư từ, báo chí) có xu hướng giảm trong khi truyền thông điện/quang, đặc biệt là truyền song hướng lại gia tăng và sẽ chiếm phần chủ đạo trong tương lai. VIỄN THÔNG Đơn hướng Song hướng Điện Truyền Điện Truyền Thư Truyền Truyền Điện Telex thoại thoại hình điện thanh hình dữ liệu hội báo cố định di động tử nghị Truyền hình vô tuyến Truyền hình cáp Hình 1.
Sơ đồ cung cấp các dịch vụ Viễn thông (Nguồn : Bộ TT&TT) Để truyền và thực hiện được các dịch vụ viễn thông, mạng lưới viễn thông phải đảm bảo rộng khắp cả nước, đủ dung lượng, tương thích về kỹ thuật toàn mạng LUAN VAN CHAT LUONG download11: add luanvanchat@agmail.com và mạng của mỗi vùng, mỗi quốc gia là một bộ phận của mạng lưới viễn thông quốc tế giữa các quốc gia với nhau. Dịch vụ viễn thông công ích Sản phẩm dịch vụ công ích: Là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh; Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí; Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định [6, điều 3, khoản 1]. Viễn thông là một ngành kinh tế kỹ thuật, đóng vai trò trước hết là dịch vụ liên lạc và truyền thông, đồng thời lại là phương tiện nền tảng để chuyển tải nhiều loại hình dịch vụ điện tử khác. Sản phẩm của viễn thông trước hết và chủ yếu dưới dạng dịch vụ nên khái niệm dịch vụ viễn thông là cách gọi phổ biến để chỉ kết quả hoạt động của ngành viễn thông.
DVVTCI là một bộ phận của dịch vụ viễn thông, nó có thể được định nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử của từng quốc gia trong một thời điểm nhất định. Theo Luật DNNN (ban hành 2003) thì: Sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định, bao gồm dịch vụ viễn thông phổ cập và dịch vụ viễn thông bắt buộc [25, điều 3, khoản 12]. Theo quy định của Luật Viễn thông, ―dịch vụ viễn thông phổ cập là dịch vụ viễn thông được cung cấp đến mọi người dân theo các điều kiện về khối lượng, chất lượng và giá cước do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định‖ [26, điều 20, khoản 2]. Tùy theo trình độ phát triển viễn thông, trên cơ sở cân đối khả năng cung cấp và nhu cầu dịch vụ viễn thông mà mỗi nước có chính sách phổ cập dịch vụ thích hợp.
Khi dịch vụ viễn thông được coi là thiết yếu thì nó phải được phổ cập hóa để LUAN VAN CHAT LUONG download12: add luanvanchat@agmail.com người dân có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi và điều này cũng đồng nghĩa với việc phổ cập mạng lưới viễn thông, vì chỉ qua mạng lưới này mà người dân có thể sử dụng được các dịch vụ viễn thông. Như vậy trên một góc độ nào đó, Dịch vụ viễn thông phổ cập cũng chính là bộ phận quan trọng của DVVTCI (vì nó có tính ―công ích‖ nên phải ―phổ câp‖; khi ―phổ cập‖ chính là để đáp ứng tính chất ―công ích‖). Dịch vụ viễn thông bắt buộc bắt buộc là dịch vụ viễn thông được cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước nhằm phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo quốc phòng - an ninh, bảo đảm thông tin liên lạc trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật. Liên minh viễn thông thế giới (ITU) đã tổng kết các nguyên lý cơ bản của dịch vụ viễn thông phổ cập (1998) và đưa ra cách hiểu: dịch vụ viễn thông phổ cập (thường gọi ngắn gọn là dịch vụ phổ cập) là một khái niệm thống nhất có ba đặc điểm: Mức độ sẵn sàng, tính khả thi và tính hiện thực của các dịch vụ viễn thông: + Mức độ sẵn sàng: Nghĩa là người dân của một quốc gia phải được hưởng dịch vụ viễn thông thông qua các hình thức phối hợp, quan hệ công tư.
+ Tính khả thi của dịch vụ: Nghĩa là tất cả các công dân phải được truy nhập các dịch vụ viễn thông mà không phân biệt vùng miền nào, dân tộc nào, có năng lực pháp lý (hay không) hay bất cứ tầng lớp cá nhân nào khác. + Tính hiện thực của dịch vụ: mức giá và mức thuế của dịch vụ điện thoại ở mức vừa phải, chấp nhận được đối với phần lớn người sử dụng. Hiện nay, dịch vụ phổ cập đã trở thành mục tiêu quan trọng của những người làm chính sách về viễn thông và là vấn đề bắt buộc đối với các công ty viễn thông trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, việc phổ cập dịch vụ càng trở nên cần thiết và đây là chính sách phù hợp để thu hẹp khoảng cách sử dụng dịch vụ giữa các vùng, miền và các nước trên thế giới.
Ngoài phục vụ liên lạc các dịch vụ viễn thông, mọi người dân phải được tạo điều kiện để tiếp cận rộng rãi với kiến thức của xã hội trong nước và trên toàn thế giới. Tại Mục 5 chương III Pháp lệnh số 43/2002/PL-UBTVQH10 ngày 7/6/2002 quy định : DVVTCI bao gồm: dịch vụ viễn thông phổ cập và dịch vụ viễn thông bắt buộc. Trong đó: Dịch vụ viễn thông phổ cập: Đây đang là vấn đề hết sức cấp thiết với các nước đang phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách được sử dụng dịch vụ giữa các LUAN VAN CHAT LUONG download13: add luanvanchat@agmail.com vùng miền trong cả nước, đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị. Với các nước phát triển, phổ cập dịch vụ cũng tạo ra cơ hội cho mọi người có thể tiếp cận các dịch vụ viễn thông tiên tiến.
nó được triển khai dưới nhiều cấp độ khác nhau như phổ cập truy nhập (universal access) và dịch vụ phổ cập (universal service). Dịch vụ viễn thông bắt buộc: Đó chính là dịch vụ viễn thông được cung cấp theo yêu cầu của Nhà nước nhằm phục vụ phát triển KT-XH và đảm bảo quốc phòng - an ninh. Trong trường hợp khẩn cấp do pháp luật quy định, một phần hoặc toàn bộ mạng viễn thông có thể được huy động để phục vụ theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhà nước phải nắm giữ độc quyền, tổ chức riêng những doanh nghiệp cung ứng hoặc chọn giao cho doanh nghiệp Nhà nước thực hiện, không tính đến việc thực hiện này mang lại lãi hay lỗ, người sử dụng dịch vụ này không phải trả chi phí.
Đặc điểm và phân loại Dịch vụ viễn thông công ích Đặc điểm Dịch vụ viễn thông công ích Để có thể sử dụng tối đa DVVTCI, cần phải có cơ chế để thông qua đó có thể chuyển hóa tiềm năng thông tin và kiến thức thành các cơ hội và năng lực mới. Cả nội dung và cơ sở hạ tầng DVVTCI đều quan trọng, nhưng tác động thực tế phụ thuộc vào việc những công cụ mới này có thể được cung cấp, tiếp cận và chi trả như thế nào đối với từng đối tượng: + Khả năng cung cấp: DVVTCI là các dịch vụ thông tin, truyền thông phù hợp với khả năng công nghệ. Khả năng cung cấp thông tin có lẽ là yếu tố quan trọng nhất. Con người cần có thông tin để nắm được những gì đang diễn ra xung quanh mình, cần phải làm gì và làm như thế nào.
Nghèo thông tin cũng khổ sở như nghèo về của cải vật chất. Việc cung cấp thông tin cho những nhóm này là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực và quyền năng cho họ. + Khả năng tiếp cận: Thông tin có thể tới từ nhiều nguồn. Đôi khi phải tiến hành thu thập thông tin mới, có khi phải thay đổi quy chế và tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với thông tin đã có sẵn.
Do đó, khả năng tiếp cận là điều kiện tiên quyết thứ hai làm cho DVVTCI trở nên phù hợp và hữu ích trong việc thúc đẩy phát triển con người. Khả năng tiếp cận hạn chế có thể do nhiều yếu tố, và để giải quyết vấn đề này cần phải có cách tiếp cận tổng hợp. Nhiều khi, rào cản ngôn ngữ còn quan trọng LUAN VAN CHAT LUONG download14: add luanvanchat@agmail.com hơn khả năng tiếp cận với thông tin và kiến thức, và vì vậy cần phải xử lý rào cản ngôn ngữ trước. Ví dụ, thực tế là người nông dân Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long cần các chương trình ti-vi và sách hướng dẫn về khuyến nông bằng tiếng dân tộc của họ để có thể học và áp dụng các kỹ thuật canh tác mới.
+ Khả năng chi trả: Khả năng chi trả có ý nghĩa thiết yếu để đảm bảo DVVTCI đến được với người dân. Thông thường, ngành viễn thông quá tốn kém đối với đại đa số người nghèo, người ở vùng sâu vùng xa. Chi phí cho việc lắp đặt một đường dây điện thoại có thể bằng sáu tháng thu nhập của một hộ gia đình nông thôn trung bình.