Tổng quan nghiên cứu
Khu vực nông thôn hiện chiếm khoảng 70% dân số Việt Nam, đóng vai trò nền tảng trong ổn định kinh tế và an sinh xã hội. Tại huyện biên giới Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, nguồn nhân lực nông thôn dồi dào nhưng phần lớn chưa qua đào tạo chuyên môn bài bản, trình độ dân trí không đồng đều và còn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tập quán sản xuất manh mún. Trong giai đoạn 2016–2020, huyện đã tích cực triển khai Đề án đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức thành công 41 lớp dạy nghề cho 1.435 học viên, góp phần nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện lên mốc 51% vào tháng 6 năm 2020 và ghi nhận trên 96% người học có việc làm ổn định sau đào tạo.
Dù đạt được những bước tiến đáng khích lệ, công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại địa bàn vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Sự chênh lệch giữa các nhóm nghề còn rất lớn khi các lớp phi nông nghiệp mới chỉ chiếm khoảng 31,7% tổng quy mô mở lớp; công tác điều tra nhu cầu học nghề chưa sát thực tế sản xuất; cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở dạy nghề cấp huyện còn nghèo nàn và hoạt động xã hội hóa nguồn lực diễn ra chậm chạp. Đứng trước yêu cầu công nghiệp hóa nông nghiệp và phát triển kinh tế cửa khẩu, mục tiêu nghiên cứu của luận văn tập trung làm rõ thực trạng quản lý nhà nước trên địa bàn huyện Văn Lãng, đánh giá nguyên nhân của các hạn chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý giai đoạn 2023–2025. Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại huyện Văn Lãng, khai thác chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2020–2022 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa vào tháng 12 năm 2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để huyện hiện thực hóa mục tiêu nâng tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo lên trên 60% vào năm 2025 và duy trì tỷ lệ việc làm bền vững sau đào tạo đạt trên 95%.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hai lý thuyết kinh tế và quản trị nền tảng: Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) của Theodore Schultz và Gary Becker, cùng Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM). Theo lý thuyết vốn con người, đào tạo nghề không phải là khoản chi phí tiêu dùng đơn thuần mà là hoạt động đầu tư sinh lợi cao nhất, trực tiếp gia tăng năng suất lao động cá nhân từ 15% đến 30% và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững. Đồng thời, lý thuyết quản lý công hiện đại định vị lại vai trò của chính quyền địa phương: từ trực tiếp cung ứng dịch vụ sang kiến tạo, điều tiết, kiểm soát chất lượng và thúc đẩy quan hệ đối tác công - tư.
Bên cạnh đó, nghiên cứu làm sáng tỏ ba khái niệm cốt lõi theo quy định của pháp luật Việt Nam: Lao động nông thôn (căn cứ Bộ luật Lao động năm 2019 và Quyết định số 1956/QĐ-TTg), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 với định hướng thực hành nghề nghiệp chiếm trên 80% thời lượng đối với trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng), và Quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Quá trình quản lý được chuẩn hóa thành chu trình khép kín gồm sáu nội dung: xác định mục tiêu và nhu cầu đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo; tổ chức thực hiện đào tạo; đánh giá quá trình đào tạo; quảng bá và tuyển sinh; theo dõi, đánh giá và cung cấp hỗ trợ sau đào tạo. Hệ thống quản lý này vừa phải tuân thủ danh mục chuẩn hơn 164 nghề quốc gia, vừa phải linh hoạt thích ứng với đặc thù kinh tế vùng biên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2020–2022 của Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng, Phòng Lao động - Thương binh, Xã hội - Dân tộc và Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa được triển khai vào tháng 12 năm 2022.
Cỡ mẫu điều tra thực nghiệm được xác định là 150 mẫu, bao gồm 120 học viên đã tốt nghiệp các lớp học nghề giai đoạn 2020–2022 và 30 cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề cùng đại diện doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn huyện. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên (stratified random sampling) theo tỷ lệ phân bổ giữa các lớp nghề nông nghiệp (chiếm khoảng 68%) và nghề phi nông nghiệp (chiếm khoảng 32%) tại các cụm xã trọng điểm. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và đánh giá mức độ hài lòng thông qua thang đo khoảng điểm Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không hài lòng đến 5: Rất hài lòng). Lý do lựa chọn kết hợp các phương pháp này nhằm định lượng hóa chính xác các chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công, chỉ ra các khoảng cách kỳ vọng giữa người học và cơ sở đào tạo, đồng thời đảm bảo độ tin cậy khoa học cao nhất cho các kết luận thực tiễn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích dữ liệu thực tế tại huyện Văn Lãng giai đoạn 2020–2022 cho thấy ba phát hiện nổi bật:
Thứ nhất, quy mô mở lớp có sự mất cân đối sâu sắc giữa nhóm nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp. Cụ thể, trong tổng số 41 lớp đào tạo cho 1.435 học viên, nhóm nghề nông nghiệp chiếm ưu thế áp đảo với 28 lớp (đào tạo 980 học viên, tương đương 68,3% tổng số người học). Ngược lại, nhóm nghề phi nông nghiệp chỉ triển khai được 13 lớp với 455 học viên, chiếm tỷ trọng khiêm tốn 31,7%. Khi trình bày dữ liệu này lên biểu đồ tròn cơ cấu ngành nghề, sự lệch pha thể hiện rất rõ nét, cho thấy định hướng chuyển dịch cơ cấu việc làm tại chỗ sang khu vực công nghiệp và dịch vụ biên mậu vẫn chưa đạt hiệu quả mong muốn.
Thứ hai, mặc dù tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo được báo cáo đạt trên 96%, tính bền vững của việc làm chưa cao và chủ yếu là tự tạo việc làm trong phạm vi kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ. Khoảng 85% lao động nông nghiệp sau khi học nghề chỉ áp dụng kỹ thuật vào diện tích canh tác sẵn có, năng suất cải thiện khoảng 15% nhưng giá trị gia tăng không đột biến do thiếu liên kết tiêu thụ. Bảng thống kê thu nhập bình quân trước và sau học nghề cho thấy mức tăng thu nhập của người học nghề phi nông nghiệp (tăng bình quân 1,2 đến 1,8 triệu đồng/tháng) cao hơn rõ rệt so với nhóm nghề nông nghiệp thuần túy (chỉ tăng từ 400.000 đến 600.000 đồng/tháng).
Thứ ba, nguồn lực phục vụ công tác quản lý và tổ chức dạy nghề tại địa phương đối mặt với tình trạng thiếu thốn nghiêm trọng. Kết quả khảo sát thang đo Likert ghi nhận cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện bị đánh giá ở mức thấp nhất, chỉ đạt điểm trung bình 2,8/5 điểm. Tỷ lệ giáo viên cơ hữu dạy thực hành thiếu hụt trầm trọng, địa phương phải dựa vào đội ngũ giáo viên thỉnh giảng chiếm hơn 60% tổng số giờ giảng. Nguồn kinh phí đào tạo phụ thuộc gần như 100% vào sự hỗ trợ của ngân sách cấp trên, công tác xã hội hóa đầu tư từ các doanh nghiệp gần như chưa đạt được kết quả khả quan.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ và thiếu đồng bộ. Công tác điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề hàng năm tại cấp xã vẫn nặng tính hành chính hình thức, chủ yếu thu thập số lượng chỉ tiêu được giao thay vì gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Thêm vào đó, tâm lý tiểu nông, e ngại rủi ro và thói quen sản xuất theo mùa vụ khiến một bộ phận lao động nông thôn chỉ muốn tham gia các lớp nghề nông nghiệp ngắn hạn tại địa phương để nhận trợ cấp hơn là theo học các ngành kỹ thuật phi nông nghiệp đòi hỏi kỷ luật cao.
Đặt trong sự so sánh với các địa phương khác, mô hình tại huyện Sóc Sơn (Hà Nội) với 98,59% dân số nông thôn đã thành công trong việc kết nối các lớp may công nghiệp trực tiếp với cụm công nghiệp lân cận; hay huyện Chi Lăng (Lạng Sơn) trong năm 2022 đã giải ngân hiệu quả 570 triệu đồng nguồn vốn ngân sách Trung ương để tập trung tạo chuỗi giá trị cho 105 học viên chuyên canh Na. Nhìn từ các điển hình này, quản lý nhà nước tại huyện Văn Lãng rõ ràng còn lúng túng trong việc xây dựng mô hình liên kết "3 Nhà": Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Để nâng cao tính trực quan trong báo cáo quản lý, dữ liệu đánh giá chất lượng dạy nghề cần được cấu trúc thành bảng ma trận so sánh chéo giữa tiêu chí cơ sở vật chất, chất lượng giáo trình và tỷ lệ tạo việc làm mới, giúp các cấp lãnh đạo địa phương dễ dàng định vị các khâu xung yếu cần phân bổ ngân sách ưu tiên.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Văn Lãng:
Thứ nhất, đổi mới quy trình khảo sát nhu cầu và lập kế hoạch đào tạo nghề. Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh, Xã hội - Dân tộc phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã số hóa 100% phiếu điều tra nhu cầu lao động trước quý II hàng năm. Kế hoạch đào tạo phải gắn kết trực tiếp với quy hoạch kinh tế - xã hội của địa phương, chủ động nâng tỷ trọng đào tạo nghề phi nông nghiệp lên tối thiểu 45% vào năm 2025 nhằm cung ứng nhân lực cho các cụm công nghiệp và khu kinh tế cửa khẩu.
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo và hoàn thiện cơ sở vật chất dạy nghề. Ban Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Văn Lãng cần rà soát, chuẩn hóa 100% giáo trình đào tạo theo hướng thực hành chiếm trên 80% tổng thời lượng. Đồng thời, Ủy ban nhân dân huyện cần bố trí tối thiểu 25% nguồn kinh phí sự nghiệp giáo dục hàng năm trong giai đoạn 2023–2025 để mua sắm máy móc, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại; ký hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp để đưa học viên đi thực tập thực tế.
Thứ ba, tăng cường chính sách hỗ trợ vốn và tiêu thụ sản phẩm sau đào tạo. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Văn Lãng cần xây dựng gói tín dụng ưu đãi chuyên biệt, mục tiêu hỗ trợ giải ngân vốn vay cho ít nhất 85% học viên sau tốt nghiệp có phương án sản xuất khả thi. Các tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên) giữ vai trò chủ lực hỗ trợ kết nối tiêu thụ nông sản, liên kết với ít nhất 10 hợp tác xã nông sản sạch trên địa bàn nhằm bảo đảm đầu ra cho lao động.
Thứ tư, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và kiểm tra, giám sát chất lượng. Ban Chỉ đạo đào tạo nghề huyện định kỳ tổ chức thanh tra, kiểm tra giám sát tối thiểu 2 cuộc mỗi năm đối với toàn bộ các cơ sở dạy nghề. Áp dụng bộ chỉ số KPI đo lường hiệu quả quản lý, trong đó tỷ lệ lao động có thu nhập tăng trên 20% sau đào tạo là tiêu chí đánh giá thi đua bắt buộc đối với chính quyền cấp xã.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho bốn nhóm đối tượng:
Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các huyện miền núi: Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận vững chắc, quy trình 6 bước quản lý nhà nước chuẩn hóa và bộ công cụ theo dõi, đánh giá hiệu quả dạy nghề sau đào tạo để vận dụng trực tiếp vào công tác ban hành chính sách địa phương.
Ban Giám đốc và giảng viên tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện: Luận văn hỗ trợ xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy, đổi mới cơ cấu chương trình thực hành nghề nghiệp trên 80% và kinh nghiệm tổ chức các lớp đào tạo nghề lưu động tại thôn bản phù hợp với mùa vụ của người dân.
Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế nông thôn: Đây là nguồn tham khảo phương pháp luận khoa học, cách mạng hóa phương pháp chọn mẫu phân tầng với 150 mẫu khảo sát, ứng dụng thang đo Likert và xây dựng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu thực nghiệm chặt chẽ tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư tại khu vực nông thôn: Doanh nghiệp có thể nắm bắt bức tranh toàn cảnh về cung - cầu lao động nông thôn, từ đó chủ động phối hợp với cơ quan nhà nước và cơ sở đào tạo để đặt hàng tuyển dụng lao động đúng kỹ năng với chi phí tối ưu.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng tỷ lệ việc làm của lao động nông thôn huyện Văn Lãng sau đào tạo đạt mức nào?
Theo báo cáo tổng kết giai đoạn 2016–2020 của huyện, tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo đạt trên 96%. Tuy nhiên, phần lớn lao động (khoảng 85%) duy trì tự tạo việc làm nông nghiệp tại gia đình, tỷ lệ chuyển dịch sang khu vực công nghiệp và dịch vụ chính thức còn thấp do thiếu hụt liên kết với doanh nghiệp.
Vì sao tỷ trọng đào tạo nghề phi nông nghiệp tại huyện Văn Lãng chỉ đạt khoảng 31,7%?
Sự chênh lệch này xuất phát từ tâm lý e ngại thay đổi của người dân nông thôn, thói quen canh tác nông nghiệp truyền thống, kết hợp với thực trạng thiếu thốn máy móc, nhà xưởng thực hành hiện đại và đội ngũ giáo viên cơ hữu tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện.
Chính sách tài chính hiện hành hỗ trợ lao động nông thôn học nghề ra sao?
Căn cứ Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngân sách nhà nước tài trợ 100% học phí cho đối tượng chính sách, hộ nghèo và người dân tộc thiểu số. Người học còn được hỗ trợ tiền ăn và chi phí đi lại, giúp hơn 1.435 người lao động tại huyện tham gia học tập mà không chịu áp lực kinh tế.
Mô hình "3 Nhà" giải quyết vấn đề cốt lõi nào trong quản lý đào tạo nghề?
Mô hình "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp" khắc phục triệt để tình trạng đào tạo tràn lan không theo nhu cầu. Nhà nước ban hành cơ chế chính sách, nhà trường cung cấp chương trình đào tạo chuẩn trên 80% thực hành, và doanh nghiệp trực tiếp tiếp nhận, bao tiêu đầu ra cho người lao động.
Đóng góp mới của luận văn về phương pháp quản lý sau đào tạo là gì?
Luận văn đã đề xuất chuẩn hóa bộ chỉ tiêu định lượng đánh giá sau đào tạo gồm: tỷ lệ áp dụng kiến thức vào thực tế, mức tăng trưởng thu nhập (mục tiêu trên 20%), và số lượng học viên tiếp cận được nguồn vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để khởi nghiệp.
Kết luận
Công trình nghiên cứu "Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn" đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu học thuật và thực tiễn đề ra:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tích hợp nhuần nhuyễn lý thuyết vốn con người và quản lý công mới vào bối cảnh kinh tế nông nghiệp vùng cao.
- Phân tích chi tiết chuỗi dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2020–2022, đánh giá khách quan kết quả đào tạo 41 lớp cho 1.435 học viên, đồng thời chỉ rõ sự mất cân đối khi nghề nông nghiệp chiếm tới 68,3% tổng quy mô.
- Nhận diện chính xác ba rào cản cốt lõi: cơ sở vật chất kỹ thuật thiếu thốn (điểm đánh giá chỉ đạt 2,8/5), nguồn kinh phí phụ thuộc 100% vào ngân sách, và mối liên kết lỏng lẻo giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
- Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao, xác định lộ trình đưa tỷ lệ nghề phi nông nghiệp lên mức 45% vào năm 2025 và giải ngân vốn sản xuất cho 85% học viên sau học nghề.
- Cung cấp tài liệu tham khảo thực chứng sâu sắc, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu việc làm và bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho vùng biên giới.
Trong giai đoạn 2023–2025, Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng và các cơ quan chuyên trách cần nhanh chóng thể chế hóa các giải pháp nêu trên vào kế hoạch hành động hàng năm. Đây là chìa khóa then chốt nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, tạo đòn bẩy đột phá để huyện hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.