Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ QUYỀN TÁC GIẢ 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký quyền tác giả 1. Khái niệm và đặc điểm của đăng ký quyền tác giả Thuật ngữ quyền tác giả (hay còn gọi là bản quyền) - copyrights hoặc author’s rights dùng để chỉ các quyền lợi mà người sáng tạo có được dựa trên tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật của họ. Các tác phẩm được bảo hộ bởi quyền tác giả gồm sách, âm nhạc, hội họa, điêu khắc, và phim, đến chương trình máy tính, cơ sở dữ liệu, quảng cáo, bản đồ và bản vẽ kỹ thuật.
[39] Song song với thuật ngữ quyền tác giả, không thể không bàn đến thuật ngữ quyền liên quan (tên gọi tắt của “quyền liên quan đến quyền tác giả” - related rights), còn được gọi là quyền lân cận (neightboring rights) bảo vệ quyền lợi hợp pháp của một số cá nhân và tổ chức góp phần làm cho những tác phẩm có sẵn đến với cộng đồng hoặc tạo ra những sản phẩm mà không đủ điều kiện được công nhận như một tác phẩm tùy thuộc vào hệ thống pháp luật về quyền tác giả của các quốc gia, nhưng những sản phẩm này có đủ sức sáng tạo hoặc kỹ năng, kỹ thuật và cách tổ chức đủ để chứng minh cho sự công nhận quyền sở hữu giống như quyền tác giả. Luật về quyền liên quan đến quyền tác giả cho rằng các sản phẩm phát sinh từ hoạt động của những cá nhân và tổ chức đó có giá trị được bảo vệ pháp lý vì chúng có liên quan đến việc bảo vệ tác phẩm của tác giả theo quyền tác giả. [38] Theo luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, người sáng tạo tác phẩm được thụ hưởng quyền tác giả kể từ khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào bất kỳ một thủ tục pháp lý nào. [8] Cụ thể, Công ước Berne 1886 tại khoản 2, Điều 5 quy định: Việc thụ hưởng và thực 8 hiện các quyền không phụ thuộc vào bất kỳ một thủ tục nào.
Khoản 1, Điều 6 Luật SHTT Việt Nam hiện hành quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ ngày tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố”. [28] Theo thông tin đăng tải trên website của WIPO: ở phần lớn các quốc gia, và theo Công ước Berne, quyền tác giả có được một cách tự nhiên, không cần phải qua đăng ký hoặc thủ tục nào khác. [39] Hiện tại, chưa có định nghĩa chính thức về đăng ký quyền tác giả từ các tổ chức quốc tế quản lý về quyền tác giả. Theo người viết, thuật ngữ đăng ký quyền tác giả (copyright registration) là một thủ tục hành chính thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đối với tác phẩm, bản định hình quyền liên quan của họ, mà thông qua đó, Nhà nước ghi nhận sự tồn tại của tác phẩm, bản định hình quyền liên quan (thông tin tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả) và cấp giấy chứng nhận cho người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan.
Trong quan hệ pháp luật hành chính về đăng ký quyền tác giả, các chủ thể đăng ký quyền tác giả là bên chủ động nộp hồ sơ đăng ký, và Nhà nước là bên bị động tiếp nhận hồ sơ đăng ký. Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là quyền của các chủ thể, còn tiếp nhận hồ sơ, xử lý và cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả. Trong đó, các chủ thể đăng ký quyền tác giả có trách nhiệm khai báo trung thực các thông tin về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm và chứng minh quyền được nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả của mình, họ phải chịu trách nhiệm với lời khai của mình và chấp nhận hậu quả pháp lý (hủy bỏ giấy chứng nhận đăng ký, chịu trách nhiệm dân sự, hoặc hành chính hoặc hình sự) khi khai báo sai sự thật; cơ quan nhà nước quản lý quyền tác giả có trách nhiệm kiểm tra 9 thông tin đăng ký về nhân thân của người nộp hồ sơ và tính hợp pháp của hình thức vật chất của tác phẩm, bản định hình quyền liên quan trong hồ sơ đăng ký. Cơ quan này không có trách nhiệm phải kiểm tra tính nguyên gốc (có đúng là tác giả, người biểu diễn đã dùng trí tuệ sáng tạo ra tác phẩm, bản định hình quyền liên quan hay không?) và tính sáng tạo (tác phẩm có sao chép của ai hay không?), tính hợp pháp khi sáng tạo tác phẩm phái sinh, bởi vì những yếu tố này cho chủ thể đăng ký quyền tác giả cam kết khi khai báo và họ phải chịu trách nhiệm với lời khai của mình.
Vai trò của đăng ký quyền tác giả đối với các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan Việc đăng ký quyền tác giả có tác dụng giúp ích cho các chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp có tranh chấp xảy ra. Nếu đã đăng ký bảo hộ quyền tác giả, cá nhân đã đăng ký bảo hộ chỉ cần xuất trình văn bằng bảo hộ mà không có nghĩa vụ chứng minh trong trường hợp phát sinh tranh chấp, trừ khi có chứng cứ ngược lại. Ngoài ra, về góc độ xã hội, tạo niềm tin cho công chúng đối với tác phẩm và tạo uy tín cho tác giả. Có thể nhận định rằng, đăng ký quyền tác giả là một cách thức làm giảm nguy cơ xâm phạm quyền.
Việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả chỉ có giá trị chứng cứ chứng minh quyền tác giả trong trường hợp có tranh chấp, nó chỉ góp phần giảm thiểu nguy cơ xâm phạm quyền tác giả, không phải là điều kiện bắt buộc để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Một tác phẩm có đăng ký hoặc không đăng ký đều được bảo hộ quyền tác giả. Quy định của pháp luật Việt Nam về đăng ký quyền tác giả Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập Công ước Berne 1886, Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả 1994 quy định đăng ký quyền tác giả là một thủ tục bắt 10 buộc để được bảo hộ quyền tác giả. (Điều 5, Pháp lệnh Bảo hộ quyền tác giả năm 1994) Từ khi Việt Nam gia nhập Công ước Berne 1886 và các Điều ước quốc tế khác về bảo hộ quyền tác giả, Luật SHTT 2005 được ban hành với tư duy lập pháp thay đôi theo xu hướng quốc tế.
Quyền tác giả, quyền liên quan được bảo hộ kể từ khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định (Điều 6 Luật SHTT hiện hành). Theo đó, đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan là một thủ tục hành chính không bắt buộc để các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan được hưởng quyền lợi của mình, các chủ thể đã đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan (Khoản 2, Điều 49 Luật SHTT). Theo khoản 1 Điều 49 Luật SHTT Việt Nam hiện hành: đăng ký quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, các chủ thể của quyền liên quan nộp đơn và hồ sơ kèm theo (sau đây gọi chung là đơn) đến cơ quan quản lý nhà nước về bản quyền để được nhà nước ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả và cấp văn bằng bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Các vấn đề cơ bản của quản lý nhà nước về đăng ký quyền tác giả 1.
Khái niệm quản lý nhà nước về đăng ký quyền tác giả Để bàn về khái niệm quản lý nhà nước về đăng ký quyền tác giả, cần phân tích riêng từng khái niệm là “quản lý”, “quản lý nhà nước” và “quản lý nhà nước về đăng ký quyền tác giả. Thuật ngữ quản lý được các nhà khoa học định nghĩa: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Trong thế giới vật chất luôn tồn tại các quy luật tự nhiên và quy luật xã hội, để một sự vật phát 11 triển cần thiết phải có sự tác động có định hướng để thiết lập trật tự thúc đẩy nó phù hợp với những quy luật của thế giới vật chất. Khái niệm “quản lý” của các nhà khoa học phù hợp với quy luật “tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội” trong học thuyết của Karl Marx, nó không những phù hợp với các máy móc, thiết bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay thậm chí là một nhà nước.1] Con người có thể đạt được xã hội văn minh, công nghệ hiện đại như hiện nay là do những sự tác động có định hướng thúc đẩy nó phát triển phù hợp với những quy luật tự nhiên và xã hội.
Qua lịch sử phát triển của nhiều nền văn minh nhân loại, sự tác động lớn nhất đối với quy luật xã hội là nhà nước. Khái niệm quản lý nhà nước được các nhà khoa học định nghĩa: “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi, hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước”.3] Đăng ký quyền tác giả là một mối quan hệ giữa các chủ thể của quyền tác giả, quyền liên quan và Nhà nước, mà thông qua đó, Nhà nước ghi nhận sự tồn tại của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học hoặc các bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu mã hóa trong phạm vi một quốc gia. Quản lý nhà nước về đăng ký quyền tác giả gồm một nhóm các hoạt động nhỏ nằm trong chuỗi hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, có quan hệ gắn bó chặt chẽ với hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Theo Điều 5 của Nghị định 22/2018/NĐ-CP, quản lý nhà nước về quyền tác giả bao gồm các hoạt động: - Xây dựng, ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật, cơ chế, chính sách bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan.