Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về cư trú ở đơn vị hành chính cấp huyện. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về cư trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. 5 Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CƯ TRÚ Ở ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN 1.
Khái quát quản lý nhà nước về cư trú tại đơn vị hành chính cấp huyện 1. Khái niệm Một trong những chức năng cơ bản của Nhà nước là chức năng xã hội - là chức năng nhà nước thực hiện sự quản lý những hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội [4, tr.397], hay nói cách khác quản lý xã hội là chức năng cơ bản của mọi nhà nước. Để Nhà nước thực hiện được chức năng này, đòi hỏi cơ quan nhà nước cấp huyện phải quản lý được các quan hệ xã hội tại địa phương mình, muốn vậy phải quản lý được từng chủ thể trong quan hệ xã hội của địa phương - đó chính là quản lý từng công dân trên địa bàn cấp huyện. Để quản lý được từng công dân cần quản lý được hai nội dung cơ bản: thứ nhất là nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch, thứ hai là quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện.
Như vậy, có thể khẳng định rằng quản lý nhà nước về cư trú là yêu cầu tất yếu đối với chính quyền địa phương cấp huyện, đó là cơ sở, tiền đề để cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện thực hiện chức năng quản lý xã hội. Trước hết, muốn nghiên cứu chuyên sâu và đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện, cần nghiên cứu một số khái niệm có liên quan, cụ thể: Cư trú, địa bàn cấp huyện, quản lý nhà nước về cư trú, quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện. Thứ nhất, thuật ngữ “Cư trú”: Theo Luật Cư trú, cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhất định. Với quy định này thì cư trú là việc công dân sinh sống tại một nơi nhất định và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú.
7 Theo Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú, nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Mỗi công dân chỉ được đăng ký thường trú tại một chỗ ở hợp pháp và là nơi thường xuyên sinh sống. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu, sử dụng của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
Đối với chỗ ở thuê, mượn hoặc ở nhờ tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 5m2 sàn/người. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống và có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn. Như vậy, thuật ngữ cư trú được hiểu là sự tồn tại, ở và sinh sống của một người tại một nơi xác định, được cơ quan có thẩm quyền công nhận sự tồn tại ấy dưới các hình thức khác nhau như thường trú, tạm trú hoặc lưu trú. Thứ hai, thuật ngữ “Địa bàn cấp huyện”: Như đã biết, Việt Nam là một nhà nước đơn nhất, có 4 cấp chính quyền, bao gồm: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cấp huyện là đơn vị hành chính nhà nước tương đương với huyện, bao gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Thuật ngữ địa bàn cấp huyện là ranh giới phân chia lãnh thổ giữa các địa phương trong tỉnh, gắn liền với vị trí địa lý cụ thể, điều kiện kinh tế - xã hội, dân tộc và hệ thống chính quyền địa phương. Theo phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ ở Việt Nam, đơn vị hành chính tỉnh được chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện và thị xã (gọi chung là địa bàn cấp huyện). Thứ ba, thuật ngữ “Quản lý nhà nước về cư trú”: 8 Về phía quản lý nhà nước, quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp.
Thuật ngữ “quản lý nhà nước” được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam với nhiều các tiếp cận khác nhau. Quản lý nhà nước tiếp cận với nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hoạt động: hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước được hiểu là sự tương đồng với quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, về mặt lý luận, hai thuật ngữ này còn gây nhiều tranh cãi.TS Nguyễn Cửu Việt cho rằng: Quản lý nhà nước là hoạt động của riêng hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, là hoạt động hành chính của các cơ quan thực thi quyền hành pháp để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo pháp luật [30, tr.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này, đồng ý với quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, tác giả cho rằng thuật ngữ quản lý nhà nước là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quản lý nhà nước về cư trú là việc các cơ quan hành chính Nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để tác động, điều chỉnh hoạt động cư trú của công dân trên cả nước, nhằm định hướng xây dựng hệ thống thống nhất của hoạt động cư trú, đảm bảo ổn định an ninh trật tự toàn xã hội hướng đến mục tiêu chung của quản lý nhà nước. Theo đó, quản lý nhà nước về cư trú là quá trình các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành các chủ trương, chính sách pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú của người dân trên lãnh thổ. Như vậy, thuật ngữ quản lý nhà nước về cư trú là quá trình cơ quan hành chính nhà nước căn cứ vào pháp luật về cư trú để thay mặt Nhà nước tiến hành quản lý hoạt động cư trú của công dân, phục vụ cho công tác quản lý xã hội của 9 Nhà nước và công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú, đảm bảo an ninh trật tự xã hội.
Đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật về cư trú. Thứ tư, thuật ngữ “Quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện”: Từ việc nghiên cứu các khái niệm nêu trên, tác giả cho rằng Quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện là quá trình Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào pháp luật về cư trú tiến hành quản lý hoạt động cư trú của người dân địa phương, phục vụ công tác quản lý xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo quy định của pháp luật về cư trú, góp phần thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn đơn vị hành chính của mình. Đặc trưng, vai trò của quản lý nhà nước về cư trú ở đơn vị hành chính cấp huyện 1. Đặc trưng Quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện mang đầy đủ những đặc điểm chung của hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Thứ nhất, hoạt động quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn huyện mang tính chấp hành và điều hành. Tính chấp hành thể hiện ở mục đích của quản lý nhà nước về cư trú, đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản quản lý nhà nước về cư trú của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Mọi hoạt động quản lý nhà nước về cư trú đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thực hiện pháp luật. Tính điều hành của quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện thể hiện ở việc đảm bảo cho các văn bản quản lý nhà nước về cư trú của chính quyền địa phương được thực hiện trên thực tế, các chủ thể quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện phải tiến hành các hoạt động chỉ đạo, phối hợp, tổ chức thực hiện đối 10 với các đối tượng quản lý.
Như vậy, tính chấp hành và điều hành của quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện luôn đan xen lẫn nhau, tồn tại song song cùng nhau. Thứ hai, quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn huyện là hoạt động mang quyền lực nhà nước. Các chủ thể có thẩm quyền quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn huyện thông qua các văn bản quản lý hành chính nhà nước, tiến hành những hoạt động cần thiết để đảm bảo thực hiện ý chí của nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế,. Thứ ba, quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn huyện là một hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức thực hiện tạo nên hệ thống quản lý cư trú chặt chẽ.
Hệ thống pháp luật về cư trú được tổ chức thực hiện từ trung ương đến địa phương, là cơ sở đảm bảo hoạt động quản lý cư trú của chính quyền địa phương cấp huyện được chỉ đạo, điều hành thống nhất, đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng, ban của chính quyền địa phương. Thứ tư, quản lý nhà nước về cư trú trên địa bàn cấp huyện là hoạt động mang tính liên tục, đáp ứng sự vận động của đời sống người dân trên địa bàn huyện.