Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về công tác lƣu trữ và quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ. Chương 2: Thực trạng hoạt động quản lý nhà nƣớc về công tác lƣu trữ tại tỉnh Ninh Thuận (2011 - 2016). Những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về công tác lƣu trữ tại tỉnh Ninh Thuận. 7 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC LƢU TRỮ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ LƢU TRỮ 1.
Tài liệu lƣu trữ 1. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về tài liệu lưu trữ. Các từ điển giải thích nghĩa của từ “Tài liệu” và “Lưu trữ” như sau: Tài liệu: Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên “tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn đề”. (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988, tr.
“Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam” do Giáo sư Nguyễn Lân chủ biên thì giải thích “Tài liệu: những điều cần thiết để đi sâu vào một vấn đề hoặc để dựa vào mà viết sách hay làm báo cáo”. (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006, tr. Như vậy, tài liệu bước đầu được hiểu là văn bản dùng để tra cứu khi muốn tìm hiểu một lĩnh vực, nội dung nào đó. Theo nghĩa chuyên ngành của “Từ điển giải thích Nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam” (PGS.TS Dương Văn Khảm, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2011, tr.
343) thì “tài liệu là vật mang thông tin làm phương tiện cho các hoạt động xã hội”. Lưu trữ: Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học, “Lưu trữ là cất giữ và sắp xếp, hệ thống hóa hồ sơ, tài liệu để tiện tra cứu, khai thác” (tr. Theo “Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam”, động từ lưu trữ có nghĩa cụ thể: lưu là giữ lại; trữ là chứa, cất. Lưu trữ là giữ gìn lại cẩn thận.
Như vậy, lưu trữ chính là việc lưu lại, giữ lại các văn bản, giấy tờ, tư liệu của các cơ quan, đoàn thể, cá nhân để làm bằng chứng và để tra cứu khi cần thiết. Các hồ sơ, tài liệu sau khi lưu lại cần phải được sắp xếp một cách khoa học theo những nguyên tắc, cách thức nhất định để thuận lợi cho việc tra cứu khi cần thiết. Kết hợp hai định nghĩa đó có thể hiểu tài liệu lưu trữ là những công văn, giấy tờ hay các phương tiện chứa đựng thông tin khác được lưu lại, giữ lại để tra cứu, khai thác thông tin quá khứ phục vụ các nhu cầu của đời sống xã hội,…Tài liệu lưu 8 trữ có nhiều loại ở các dạng khác nhau nhưng văn bản bằng giấy là dạng phổ biến nhất. Tuy nhiên, không phải tất cả tài liệu hình thành trong đời sống xã hội đều được giữ lại mà chỉ bảo quản những tài liệu thật sự có giá trị.
Quan điểm về tài liệu lưu trữ càng ngày có sự biến đổi phù hợp với sự phát triển của xã hội loài người. Trên thế giới, khái niệm “Tài liệu lưu trữ” không hoàn toàn thống nhất ở tất cả các nước. Nhiều nước chỉ giới hạn tài liệu lưu trữ là các sản phẩm tài liệu được hình thành trong hoạt động của các cơ quan hoặc cá nhân. Có những nước có khái niệm tài liệu lưu trữ bao hàm cả ấn phẩm, tác phẩm hội họa,…Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng nhìn chung, quan niệm về tài liệu lưu trữ ở các nơi trên thế giới đều có điểm tương đồng về bản chất của tài liệu lưu trữ.
Các quốc gia đều nhìn nhận tài liệu lưu trữ là những tài liệu được lưu trữ hoặc thuộc diện cần lưu trữ do tầm quan trọng của chúng đối với xã hội hoặc có giá trị đối với người sở hữu. Tài liệu lưu trữ là vật mang tin kèm theo thông tin được ghi lại trên đó và có các thể thức cho phép nhận dạng nó, đồng thời được bảo quản do giá trị vật mang tin và thông tin đối với các công dân, xã hội và Nhà nước. Ở Việt Nam, theo Khoản 3 Điều 2 Luật Lưu trữ năm 2011 thì “Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử được lựa chọn để lưu trữ. Tài liệu lưu trữ bao gồm bản gốc, bản chính; trong trường hợp không còn bản gốc, bản chính thì được thay thế bằng bản sao hợp pháp”.
Như vậy, với các cách hiểu của thế giới và Việt Nam về tài liệu lưu trữ hiện nay, có thể định nghĩa tài liệu lưu trữ theo nghĩa chuyên ngành như sau: Tài liệu lưu trữ là tài liệu bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp của tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong các thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam được hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân qua các thời kỳ lịch sử, không phân biệt xuất xứ, nơi bảo quan, kỹ thuật ghi tin và vật mang tin; được lựa chọn để giữ lại và bảo quản để phục vụ nghiên cứu khoa học, lịch sử và hoạt động thực tiễn. 9 Dù hiểu theo nghĩa nào, tài liệu cũng được ý thức giữ gìn, lưu trữ lại để phục vụ nhu cầu sử dụng của con người trong hiện tại và tương lai. Đặc điểm của tài liệu lưu trữ Theo PGS.TS Dương Văn Khảm (Từ điển Giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam, 2011), tài liệu lưu trữ có các đặc điểm cơ bản sau: Tài liệu hình thành qua hoạt động thực tiễn của xã hội, có một bản trong mỗi hồ sơ, rõ nguồn sản sinh ra tài liệu. Là tài liệu bản gốc, bản chính hoặc bản sao hợp pháp.
Là tài liệu có giá trị pháp lý; làm bằng chứng chân thực cho các hoạt động quá khứ. Không phải là đối tượng được sản sinh ra để mua, bán, kinh doanh. Ý nghĩa của tài liệu lưu trữ Tài liệu lưu trữ có ý nghĩa trên các phương diện sau: Ý nghĩa chính trị: Tài liệu lưu trữ luôn chứa đựng những thông tin mang tính giai cấp, phản ánh bản chất của một giai cấp nhất định, thường là giai cấp cầm quyền trong xã hội hiện tại nơi tài liệu lưu trữ được thu thập. Ở nước ta, tài liệu lưu trữ là phương tiện tuyên truyền, cổ động cho giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động.
Tài liệu lưu trữ còn chứa đựng những thông tin về chủ quyền quốc gia, dân tộc, về lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển đất nước. Vì thế, tài liệu lưu trữ là những bằng chứng lịch sử để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc, đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, là minh chứng về vai trò lãnh đạo của Đảng trong chặng đường đấu tranh dựng nước và giữ nước, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ người Việt Nam. Ý nghĩa lịch sử - khoa học: Tài liệu lưu trữ bao giờ cũng gắn liền và phản ánh một cách trung thực quá trình hoạt động của một con người, một cơ quan và các sự kiện lịch sử của cả quốc gia trong tiến trình lịch sử. Vì thế, tài liệu lưu trữ là nguồn thông tin chính xác nhất, chân thực nhất để nghiên cứu lịch sử.
Tài liệu lưu trữ cũng phản ánh sự thật khách quan hoạt động sáng tạo của xã hội đương thời nên mang tính khoa học cao. Đó không chỉ là bằng chứng của sự phát triển khoa học mà 10 còn phục vụ cho các đề tài khoa học; ứng dụng kết quả nghiên cứu trước đây vào công việc nghiên cứu hiện tại; giúp cho việc tổng kết, đánh giá, rút ra những quy luật vận động của tự nhiên và xã hội để dự báo, dự đoán chính xác thúc đẩy tiến trình phát triển của xã hội. Ý nghĩa thực tiễn: Tài liệu lưu trữ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, phục vụ đắc lực cho nhu cầu tra cứu của xã hội, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan, phục vụ nghiên cứu và giải quyết các công việc hàng ngày của mỗi cán bộ công chức, phục vụ nhu cầu đời sống của công dân. Ngoài ra, tài liệu lưu trữ còn là các công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực,…của những vùng kinh tế trên khắp đất nước, giúp các nhà quản lý xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế phù hợp với từng khu vực, địa phương, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của từng vùng, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
Với những ý nghĩa trên, tài liệu lưu trữ được ghi nhận là di sản của dân tộc, có giá trị đặc biệt đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Khái niệm Do ý nghĩa vô cùng to lớn của tài liệu lưu trữ trên các phương tiện đời sống xã hội, công tác lưu trữ đã ra đời để đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi khách quan của việc quản lý, bảo quản và tổ chức sử dụng tài liệu, phục vụ nhu cầu sử dụng của các tổ chức, cá nhân. Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động của nhà nước (xã hội) bao gồm tất cả những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp chế liên quan đến việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân.TS Dương Văn Khảm, “công tác lưu trữ (Archives work) là toàn bộ quy trình quản lý nhà nước và quản lý nghiệp vụ lưu trữ, nhằm thu thập, bổ sung, 11 bảo quản, bảo vệ an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ”. (Từ điển Giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, 2011, tr.
Nội dung của công tác lưu trữ Cũng theo “Từ điển Giải thích nghiệp vụ văn thư lưu trữ Việt Nam”, công tác lưu trữ bao gồm hai nội dung lớn: Các lĩnh vực công tác quản lý nhà nước đối với tài liệu lưu trữ (hoạt động xây dựng pháp luật và kiểm tra, chỉ đạo thực hiện pháp luật) và các hoạt động sự nghiệp lưu trữ là các tác nghiệp cụ thể để tạo ra các sản phẩm đặc trưng của ngành và toàn bộ lao động để bảo vệ, bảo quản an toàn và sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ quốc gia.