Chương I: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý nhà nước đối với chứng thực trên địa bàn quận. Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước đối với chứng thực của UBND Quận 12. Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện cho hoạt động quản lý nhà nước đối với chứng thực của UBND Quận 12. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CHỨNG THỰC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1.
Những vấn đề chung về chứng thực 1. Khái niệm chứng thực Theo Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về Công chứng, chứng thực định nghĩa về chứng thực như sau: "Chứng thực là việc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định" [5]. Tuy nhiên, Nghị định 79/2007/NĐ-CP và nay là Nghị định 23/2015/NĐ-CP không có quy định nào định nghĩa về chứng thực mà chỉ đưa ra định nghĩa các hoạt động chứng thực cụ thể như: cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch. Pháp luật hiện hành không khái niệm cụ thể chứng thực là gì, nhưng thông qua các quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP thì chúng ta có thể hiểu chứng thực là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận đối với các giấy tờ, văn bản, hợp đồng, giao dịch dân sự của cá nhân, tổ chức qua đó đảm bảo tính chính xác, hợp lệ, hợp pháp của giấy tờ, văn bản và các bên tham gia giao dịch, nội dung giao dịch.
Bao gồm: cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Tuỳ theo cách tiếp cận, mục đích, phạm vi và thời điểm nghiên cứu sẽ có cách hiểu khác nhau về hoạt động chứng thực. Chẳng hạn: Tại Thuỵ Sĩ, chỉ có quy định điều chỉnh về hoạt động chứng thực mà chưa có sự tách biệt riêng thành Luật Công chứng, Luật Chứng thực, còn chứng thực có thể hiểu là: "Việc chứng thực áp dụng đối với chữ ký, bản sao chụp, trích lục, sao chép hoặc dịch."[39] Tại Cộng hoà Liên bang Đức, tại Điều 39 Chương III Luật Công chứng ngày 28/09/1969 quy định về chứng thực đơn giản: "Khi chứng thực chữ ký, dấu vân tay, tên hãng cũng như khi chứng thực thời điểm xuất trình giấy tờ cá nhân, chứng thực việc đã vào sổ đăng ký hoặc chứng thực các bản sao lục và các văn bản đơn giản khác 7 thì chỉ cần một văn bản công chứng thay vì biên bản công chứng, trong đó có chữ ký, dấu niêm phong và ghi rõ ngày, nơi lập, văn bản công chứng là đủ."[39] Ở nước ta, trong Sắc lệnh số 59/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ấn định thể lệ việc thị thực giấy tờ, Người không dùng "chứng thực" mà sử dụng thuật ngữ "thị thực": "Các uỷ ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc tịch nào. Tuy nhiên, Uỷ ban thị thực phải là Uỷ ban ở trú quán một bên đương sự lập ước và về việc bất động sản phải là Uỷ ban ở nơi sở tại bất động sản." Thông tư số 858/QLTPK ngày 10/10/1987 quy định về công chứng nhà nước là văn bản pháp luật đầu tiên xuất hiện thuật ngữ "chứng thực": Công chứng viên có thể chứng thực chữ ký của người lập ra các đơn từ, giấy tờ khác có nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Tại Điều 19 Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của công chứng nhà nước: "Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính, trừ các việc được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 18 của Nghị định này Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định." Tại Việt Nam năm 2000 với việc ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 về công chứng, chứng thực (gọi tắt là Nghị định 75/2000/NĐ-CP) thì mới có sự phân biệt giữa thuật ngữ "công chứng" và "chứng thực". Theo đó " Chứng thực là việc Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp động giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định." Như vậy theo quy định số 75/2000/NĐ-CP hoạt động chứng thực bao gồm: 8 - Xác nhận sao y giấy tờ; - Xác nhận hợp đồng, giao dịch; - Xác nhận chữ ký. Tiếp đến là sự ra đời của Luật Công chứng 2006 điều chỉnh hoạt động công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/05/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính (gọi tắt là Nghị định 79/2007/NĐ-CP) điều chỉnh hoạt động chứng thực sao y bản chính, cấp bản sao từ sổ gốc và chứng thực chữ ký. Như vậy hoạt động công chứng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Công chứng 2006, hoạt động chứng thực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 79/2007/NĐ-CP, tuy nhiên nghị định này chưa nêu khái niệm "Chứng thực" mà chỉ giải thích việc cụ thể từng mảng của hoạt động chứng thực.
Có thể thấy phạm vi của hoạt động chứng thực chỉ còn: - Cấp bản sao từ sổ gốc; - Chứng thực bản sao từ bản chính; - Chứng thực chữ ký cá nhân (bao gồm bản dịch từ Tiếng việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại) trong các loại giấy tờ, văn bản phụ vụ cho giao dịch dân sự. Nghị định 79/2007/NĐ-CP không điều chỉnh chứng thực hợp đồng, giao dịch được quy định theo Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn; Luật Nhà ở năm 2005 và các văn bản hướng dẫn; như vậy vô hình chung Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là Nghị định 88/2009/NĐ-CP) quy định cụ thể các loại hợp đồng, giao dịch, giao dịch mà UBND cấp xã được chứng thực, sẽ chồng chéo với hoạt động công chứng thuộc thẩm quyền của Phòng Công chứng và Văn phòng công chứng. Bởi bản chất của hoạt động công chứng là xác nhận tính hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch, thẩm quyền này đã giao cho các tổ chức hành nghề công chứng. Nhận thấy được điều này nên Nghị định 88/2009/NĐ-CP đã quy định cho 9 UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phát triển tổ chức hành nghề công chứng ở địa phương để đáp ứng yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất; xem xét, quyết định chuyển giao việc chứng thực các hợp đồng, giao dịch mà UBND cấp huyện, cấp xã đang thực hiện sang tổ chức hành nghề công chứng ở địa bàn cấp huyện mà các tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng được yêu cầu.
Ở những nơi tổ chức hành nghề công chứng đáp ứng được yêu cầu công chứng hợp đồng, giao địch thì UBND cấp tỉnh sẽ quyết định cho các tổ chức này làm, đồng thời UBND cấp huyện, cấp xã của địa bàn đó không thực hiện chức năng chứng thực hợp đồng, giao dịch. Tại Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/08/2008 về Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 79/2007/NĐ-CP. Luật Công chứng 2006 và Nghị định 79/2007/NĐ-CP đã phân biệt được hai hoạt động công chứng và chứng thực, theo đó công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; còn Phòng Tư pháp cấp huyện, UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chữ ký trong các loại văn bản, giấy tờ. Theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
Hoạt động chứng thực được cụ thể hoá trong các thuật ngữ: - Chứng thực bản sao từ bản chính; - Chứng thực chữ ký; - Chứng thực hợp đồng, giao dịch; Hiện hay chủ trương chuyển giao thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch sang các tổ chức hành nghề công chứng được thực hiện tại 63/63 tỉnh thành của cả nước. Tuy nhiên đối với các hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản là động sản thì vẫn được đảm nhiệm của UBND cấp huyện, UBND cấp xã, như vậy sẽ giảm tải áp lực cho các tổ chức hành nghề công chứng. 10 Tóm lại, trải qua các thời kỳ cho đến nay, Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào có khái niệm rõ ràng và đầy đủ bản chất của hoạt động chứng thực, mà chỉ có khái niệm gắn chứng thực với một việc cụ thể nào đó. Tuy nhiên có thể khái quát chứng thực như sau: "Chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, sự kiện pháp lý, thông tin cá nhân, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức có liên quan trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính,.2 Chủ thể thực hiện hoạt động chứng thực Căn cứ theo Điều 5, Nghị định 23/2015/NĐ-CP, chủ thể thực hiện hoạt động chứng thực là Phòng Tư pháp của UBND cấp huyện, UBND cấp xã, các tổ chức hành nghề công chứng và các tổ chức ngoại giao của Việt Nam, Tổ chức lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan khác được uỷ quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài.