chương I của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 quy định: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đó được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”, [15]. Luan van 11 Ngân sách xã, phường: Theo điều 2 phần I của Thông tư số 60/TT-BTC ban hành ngày 23/6/2003 của Bộ tài chính thì: “ Ngân sách xã là một bộ phận của ngân sách nhà nước”, [4]. Do đó có thể hiểu ngân sách xã, phường hay gọi chung là NSCX là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp xã nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước cấp cơ sở trong khuôn khổ được phân công, phân cấp quản lý. Chi thường xuyên ngân sách xã, phường: Từ những khái niệm đã nêu ở trên về NSCX ta có thể hiểu Chi thường xuyên ngân sách xã, phường hay gọi chung là chi thường xuyên NSCX là các khoản chi nhằm đảm bảo cho sự hoạt động của chính quyền cấp xã theo đúng quy định của pháp luật.
Chi thường xuyên NSCX nói riêng và chi NSCX nói chung đều phải được HĐND cấp xã thông qua. Phân loại các khoản chi thường xuyên NSCX theo các nhóm sau: Nhóm 1: Chi cho hoạt động của các đơn vị ở cấp xã bao gồm các khoản chi cho: 1) Tiền lương, tiền công cho cán bộ, công chức cấp xã; 2) Phụ cấp đại biểu HĐND; 3) Công tác phí; 4) Chi về hoạt động, văn phòng như: chi phí điện, nước, văn phòng phẩm, phí bưu điện, điện thoại, hội nghị, chi tiếp tân, khánh tiết; 5) Chi mua sắm trang thiết bị, sửa chữa thường xuyên trụ sở, phương tiện làm việc; 6) Chi khác theo chế độ quy định. Nhóm 2: Kinh phí hoạt động của cơ quan Đảng. Nhóm 3: Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội ở xã (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ, Hội nông dân) và các hội đặc thù ở xã (Hội chữ thập đỏ, Hội Người cao tuổi) sau khi trừ các khoản thu theo điều lệ và các khoản thu khác nếu có.
Nhóm 4: Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn cho cán bộ, công chức xã và các đối tượng khác theo chế độ quy định. Nhóm 5: Chi cho công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội bao gồm các khoản chi cho: 1) Chi huấn luyện dân quân tự vệ, chi cho công tác trực sẵn sàng Luan van 12 chiến đấu, các khoản phụ cấp huy động dân quân tự vệ và các khoản chi khác; 2) Chi thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, công tác nghĩa vụ quân sự khác; 3) Chi tuyên truyền, vận động và tổ chức các phong trào bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã; 4) Các khoản chi khác theo chế độ quy định. Nhóm 6: Chi cho công tác bảo trợ xã hội và các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao do xã quản lý. Nhóm 7: Chi cho sự nghiệp giáo dục: Hỗ trợ phổ cấp giáo dục cho các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, hỗ trợ các lớp học bổ túc văn hóa, trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ do xã quản lý.
Nhóm 8: Chi sửa chữa, cải tạo các công trình phúc lợi, các công trình kết cấu hạ tầng do xã quản lý như: trường học, trạm y tế, nhà trẻ, cầu đường… Nhóm 9: Hỗ trợ khuyến khích phát triển các sự nghiệp kinh tế như: Khuyến nông, khuyến ngư, khuyến lâm theo chế độ quy định. Nhóm 10: Chi trợ cấp hàng tháng cho các cán bộ cấp xã có thời gian làm việc liên tục từ 15 năm trở lên nghỉ việc và được hưởng chế độ theo quy định. Nhóm 11: Các khoản chi khác ở xã theo chế độ quy định. Đặc điểm NSCX là một bộ phận trong hệ thống NSNN nên NSCX mang một đặc điểm khác biệt so với các cấp ngân sách khác, đó chính là: NSCX vừa là một cấp trong hệ thống NSNN, lại vừa là đơn vị sử dụng ngân sách.
Khi đóng vai trò một cấp ngân sách nó được phân cấp quản lý nguồn thu và thực hiện các nhiệm vụ chi như một cấp ngân sách thực thụ. Còn khi đóng vai trò đơn vị sử dụng ngân sách, nó được trực tiếp chi tiêu các nguồn kinh phí theo dự toán, chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định. Theo thông tư số 118/2000/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2000 của Bộ tài chính thì Thu ngân sách xã gồm: “Các khoản thu ngân sách xã hưởng 100%, các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách xã với ngân sách cấp trên, thu bổ sung từ ngân sách cấp trên. Chi ngân sách xã gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên”, [3].
Luan van 13 Các khoản thu NSCX hưởng 100%: Là các khoản thu phát sinh trên địa bàn xã, do xã tổ chức huy động và dành cho NSCX được hưởng 100% số thu từ các khoản này. Cơ sở để hình thành các khoản thu và cho phép xã hưởng 100% xuất phát bởi: cơ sở kinh tế của nguồn và yêu cầu tập trung quản lý nguồn. Có thể kể tên các khoản thu NSCX được hưởng 100% như: các khoản phí, lệ phí thu vào NSCX theo quy định; thu đấu thầu, thu khoán theo vụ mùa từ quỹ đất công ích và hoa lợi công sản, thu kết dư…vv. Các khoản thu NSCX được hưởng theo tỷ lệ điều tiết: Cơ sở để hình thành nên các khoản thu này cũng dựa vào cơ sở kinh tế và yêu cầu tập trung quản lý nguồn thu.
Khi đó, những lợi ích gì thuộc về quyền sở hữu của chính quyền nhà nước cấp trên được hưởng, song nên có sự phân chia cho cấp xã một phần để việc phối hợp quản lý có hiệu quả hơn. Các khoản thu đó bao gồm: thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà đất, tiền cấp quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất, thuế môn bài. Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên: Trong hệ thống tổ chức NSNN, các cấp ngân sách đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi cấp ngân sách đều phải tự cân đối thu – chi của mình. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể nếu cấp ngân sách (hay bộ phận của cấp ngân sách) nào không tự cân đối được, thì ngân sách cấp trên có trách nhiệm cấp bổ sung nguồn thu cho cấp ngân sách (hay bộ phận của cấp ngân sách) đó để đảm bảo cân đối thu – chi ngay từ khâu lập dự toán.
Từ đó hình thành khoản thu bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Chi thường xuyên NSCX bao gồm các khoản chi như chi lương cho công chức, hội họp, đảm bảo xã hội, các hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã…. Còn chi cho đầu tư phát triển bao gồm các khoản chi về cơ sở hạ tầng kinh tế -xã hội như: cầu, đường, trường, trạm y tế… Đa số các khoản chi thường xuyên đặc biệt là các khoản chi thường xuyên ở xã mang tính chất ổn định khá rõ nét, chủ yếu là chi cho con người như chi trả lương, phụ cấp cho các cán bộ, công chức, cán bộ không chuyên trách, hợp đồng, Luan van 14 hưu xã… vì vậy nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đồng đều giữa các năm trong kỳ kế hoạch; Đa số các khoản chi thường xuyên NSCX mang tính chất tiêu dùng xã hội bởi lẽ các khoản chi thường xuyên NSCX chủ yếu nhằm trang trải cho các nhu cầu về Hành chính nhà nước, quốc phòng an ninh, về các hoạt động hàng ngày tại xã, phường. Hiệu quả của chi thường xuyên NSCX không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển.
Nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội, từ đó thúc đẩy phát triển bền vững của đất nước. Việc sử dụng kinh phí thường xuyên ở xã, phường được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức cấp phát thanh toán. Tất cả các khoản chi NSNN nói chung và chi thường xuyên NSCX nói riêng đều phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán. Các khoản chi thường xuyên NSCX phải có trong dự toán chi NSCX được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước có thẩm quyền quy định và đã được thủ trưởng đơn vị chuẩn chi.
Vai trò NSCX cung cấp các phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước ở cơ sở. Thông qua thu NSCX đã tập trung nguồn lực để đáp ứng nhu cầu chi tiêu ở cấp xã như chi lương, sinh hoạt phí, chi cho quản lý hành chính, mua sắm các trang thiết bị văn phòng… NSCX là công cụ để điều chỉnh, khích thích mọi hoạt động của xã đi đúng hướng, đúng chính sách, chế độ và tăng cường mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, công bằng trên địa bàn xã NSCX góp phần quan trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” hệ thống giao thông liên thôn, liên xã được xây dựng mới và nâng cấp thường xuyên Chi thường xuyên NSCX có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của NSCX cũng như giúp cho bộ máy chính quyền cấp xã hoạt động một cách có hiệu quả nhất. Theo điều 2 Quyết định số 112-HĐBT ngày 15/10/1981 của Hội đồng bộ trưởng thì : “Chính quyền cấp xã có chức năng quản lý mọi mặt công tác của Nhà Luan van 15 nước ở xã, nhằm bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; đảm bảo quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân trong xã; động viên mọi công dân trong xã làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước”, [6].