Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, phát sinh khi cần có sự nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.
Với ý nghĩa phổ biến thì quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng quản lý theo những mục tiêu đã định. Vai trò của quản lý: Giúp cho các thành viên trong tổ chức hiểu rõ mục đích và hướng đi của mình; giúp cho việc sử dụng và phối hợp các nguồn lực một cách có hiệu quả; giúp cho tổ chức có thể ứng phó tốt hơn với sự thay đổi với các yếu tố bất định của môi trường.[30] Quá trình quản lý bao gồm nhiều chức năng có mối liên hệ với nhau gọi là các chức năng của quản lý: Lập kế hoạch; tổ chức; lãnh đạo; kiểm tra. Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định.[30] Hiện nay có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quản lý là cai trị; cũng có quan niệm cho rằng quản lý là điều hành, điều khiển chỉ huy. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
12 Có thể đưa ra khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp (tức là quản lý xã hội) như sau: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người quản lý. Quản lý nhà nước Theo giáo trình “Quản lý học đại cương” của Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - Sự thật: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự kiến.[31] Theo giáo trình “Lý luận Quản lý công” – Học viện Hành chính Quốc gia: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người do cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ và trật tự pháp luật, thỏa mãn các nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đạt được mục tiêu quốc gia một cách hiệu quả nhất trong từng giai đoạn phát triển.[30] Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi. Có thể hiểu “Quản lý nhà nước về BHYT là sự tác động có tổ chức, có mục đích, có ý thức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với lĩnh vực BHYT do các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ cấp trung ương đến cấp cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong lĩnh vực BHYT theo quy định của pháp luật”.[37] Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điểu 13 hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Quản lý xuất hiện trong mọi tổ chức, tập thể có hoạt động chung. Chủ thể quản lý nhà nước là cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, được sử dụng quyển lực nhà nước để quản lý. Pháp luật là công cụ chủ yếu của quản lý nhà nước. Đối tượng quản lý nhà nước là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong một quốc gia, là sinh hoạt, đời sống của xã hội diễn ra trên từng lĩnh vực.
Quản lý nhà nước được giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia và được phân biệt với quản lý mang tính chất nội bộ một tổ chức xã hội, đoàn thể, đơn vị, xí nghiệp, một cộng đồng dân cư mang tính tự quản. Cơ cấu hệ thống và các yếu tố tạo nên hoạt động QLNN. Cơ cấu hệ thống QLNN bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mối quan hệ chủ thể quản lý và đối tượng quản lý trong quá trình quản lý.[38] Chủ thể QLNN được xác định trên cơ sở hình thành các đơn vị hành chính và mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo quy định của pháp luật. Hệ thống QLNN được xây dựng theo hệ thống chức năng chiều dọc, tạo ra cơ cấu quản lý phù hợp với chức năng quản lý của từng lĩnh vực theo các cơ quan nhà nước và theo ngành.
Hệ thống QLNN là một tập hợp các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền. Trong các cơ quan tổ chức đó, cán bộ, công chức nhà nước được xác định cụ thể quyền và nghĩa vụ. Đối tượng QLNN chính là con người hay cụ thể hơn là hành vi con người trong xã hội. Trên cơ sở mục đích của quản lý nhà nước đối tượng QLNN có thể phân chia ra nhiều loại, như cấp độ của đối tượng quản lý (con người, tập thể, hệ thống tổ chức.
Khách thể của QLNN là hệ thống các hành vi hoạt động của con người, các tổ chức con người trong đời sống xã hội, là hệ thống trong đó bao 14 trùm các lĩnh vực sản xuất, tái sản xuất các giá trị vật chất và tinh thần cũng như các điều kiện sống của con người trong xã hội. Để thực hiện QLNN, có thể chia khách thể của QLNN theo các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.[38] Phương pháp QLNN là phương thức, cách thức mà chủ thể quản lý tác động lên khách thể quản lý (hành vi, đối tượng quản lý) nhằm đạt được mục đích quản lý. Phương thức QLNN thể hiện ý chí của nhà nước, nó phản ánh thẩm quyền của các cơ quan nhà nước và được biểu hiện dưới những hình thức nhất định. Các phương pháp trong hoạt động QLNN là: thuyết phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế, theo dõi, kiểm tra, ngoài ra còn có những phương pháp dùng áp dụng trong quá trình thực hiện những chức năng riêng biệt.
Bảo hiểm y tế Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về BHYT, nhưng mục đích chung của BHYT đều giống nhau là huy động nguồn tài chính để chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT khi bị ốm đau bệnh tật, nội dung các khái niệm bao hàm như sau: “BHYT là sự đóng góp theo chu kỳ đều đặn tạo nên một quỹ chung để cùng nhau chia sẽ những rủi ro thông qua hình thức thanh toán chi trả chi phí KCB bằng quỹ bảo hiểm”.[29] “BHYT là loại bảo hiểm do nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”.[56] Mặc khác BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của tổ chức lao động quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH. Ở Việt Nam, “…BHYT là một đổi mới trong lĩnh vực y tế góp phần giảm bớt dần sự phân biệt giàu nghèo trong KCB, phát huy tính nhân đạo 15 cộng đồng trong đời sống xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng văn minh xã hội…”[27]. Quỹ BHYT là nguồn kinh phí quan trọng cấu thành ngân sách của ngành y tế. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT ngày 13/6/2014, “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.
BHYT Việt Nam là hệ thống tổ chức thực hiện chính sách xã hội, tổ chức bộ máy gồm có: ở Trung ương có BHYT Việt Nam, trực thuộc Bộ Y tế, chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn về BHYT; tại các tỉnh, thành phố có BHYT tỉnh, thành phố, trực thuộc Sở Y tế và chịu sự giám sát, chỉ đạo của Hội đồng quản trị BHYT tỉnh, do Phó chủ tịch UBND tỉnh, phụ trách khối văn xã, làm Chủ tịch Hội đồng. BHYT được tổ chức theo mô hình đa quỹ, phân tán theo tỉnh.[35] + Giai đoạn từ 13/8/1998 đến 01/01/2003: Chính phủ có Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 ban hành Điều lệ BHYT, thay thế Nghị định số 299/HĐBT, BHYT được tổ chức theo mô hình đơn quỹ và được phân cấp và phân quyền mạnh. Cụ thể: Ở Trung ương có BHYT Việt Nam. Chỉ đạo, giám sát các hoạt động của BHYT Việt Nam có Hội đồng quản lý BHYT Việt Nam.
BHYT các tỉnh, thành phố trực thuộc BHYT Việt Nam.[35] + Giai đoạn từ 01/01/2003 đến 30/6/2009: Đến ngày 01/01/2003, thực hiện Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg và Nghị định số 100/2002/NĐ-CP của Chính phủ. Tổ chức BHYT sát nhập vào tổ chức BHXH, tổ chức theo mô hình đơn quỹ, hợp nhất với các quỹ BHXH khác, cụ thể: hệ thống BHXH thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương. BHXH Việt Nam 16 trực thuộc Chính phủ, BHXH các tỉnh, thành phố trực thuộc BHXH Việt Nam.[35] + Giai đoạn từ 01/7/2009 đến nay: Lần đầu tiên chính sách BHYT được luật hóa, tạo nên khung pháp lý cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi đẩy nhanh việc phát triển BHYT. Luật BHYT cũng đã quy định rõ lộ trình tiến tới BHYT toàn dân là phải thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân.