Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thực hiện pháp luật về quản lý viên chức. Khái niệm thực hiện pháp luật về quản lý viên chức. Khái niệm viên chức Lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao… đã ngày càng gia tăng về số lượng cũng như chất lượng và chuyên môn cao hơn để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, phục vụ nhu cầu, lợi ích của con người.
Ở mỗi quốc gia khác nhau sử dụng từ ngữ khác nhau để gọi tên những người làm việc trong lĩnh vực công, đơn vị sự nghiệp công lập như: “công chức”, “công chức bình thường”, “công chức sự nghiệp” hay “viên chức”. Nhưng khi nhìn nhận, tùy vào góc độ lớn hay nhỏ để xác định đối tượng là công chức hay viên chức ở các quốc gia là không giống nhau, tùy thuộc vào các yếu tố như: chế độ chính trị, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, văn hóa xã hội của mỗi quốc gia. Thời kỳ thập niên 60 tới thập niên 80, không sử dụng tên gọi công chức mà sử dụng các tên gọi như: “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước”, “công nhân viên chức”, để nói đến toàn bộ những người làm việc trong biên chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Nhà nước, Đảng. Trong thời kỳ này chưa có sự phân định, tách biệt rõ ràng tên gọi “cán bộ” hay “công chức” và “viên chức”.
Nghị định số 169/HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 25/5/1991 đã nêu định nghĩa công chức có đặc điểm cơ bản như Sắc lệnh 76/SL năm 1950. Như vậy, đến năm 1991 đã có sự phân biệt rạch ròi định nghĩa “công chức”, không gây nhầm lẫn như thời kỳ trước với định nghĩa “cán bộ” hay “viên 9 chức”. Hiến pháp năm 1980 đã dùng cụm từ “ cán bộ, viên chức nhà nước” để chỉ người làm việc trong biên chế các cơ quan, tổ chức nhà nước. Vào năm 1982 Nhà nước đã có Bảng danh mục viên chức số 1.
Hiến pháp 1992 cũng gọi tên “cán bộ, viên chức nhà nước”. Và Pháp lệnh năm 1998 đã có sự xác định về cán bộ, công chức, viên chức và tiếp đó Hiến pháp 2013 tiếp tục sử dụng cụm từ này, đồng thời dựa trên chức năng, nhiệm vụ và công việc của từng người trong cơ quan, tổ chức nhà nước mà đã có sự tách bạch, khác biệt với nhau. Như vậy, có thể hiểu Pháp lệnh cán bộ, công chức là tiền đề để thực hiện điều chỉnh riêng biệt giữa người làm việc được xếp vào ngạch “hành chính” và ngạch “sự nghiệp”. Thời điểm này, khi nói về phạm trù “cán bộ, công chức” thì có thể bao gồm một phần viên chức.
Năm 2008, Nhà nước ban hành luật quy định quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc đối với “cán bộ, công chức”, không hề nhắc đến “viên chức”. Hoạt động công tác của viên chức chỉ mang tính chuyên môn, nghề nghiệp và không mang quyền lực công; đó là đặc điểm, đặc trưng khác biệt giữa viên chức và công chức. Đồng thời, Luật cũng nêu rõ các vấn đề khác biệt lớn giữa quy định “chức danh nghề nghiệp” của viên chức với “ngạch” của cán bộ, công chức. Khái niệm viên chức chỉ thực sự được làm rõ và chi tiết tại Luật Viên chức năm 2010 quy định như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
[39] Đội ngũ viên chức có vai trò rất quan trọng trong việc trực tiếp thực hiện hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị góp 10 phần vào sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập và quy luật vận động phát triển. Do đó, việc quy định tiêu chuẩn và hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức theo lĩnh vực công tác khác nhau do các cơ quan quản lý theo ngành, lĩnh vực được phân công phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Ví dụ: trong lĩnh vực y tế, Điều dưỡng có văn bằng tốt nghiệp Sau đại học, đại học, cao đẳng được quy định ở Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07/10/2015 như: Điều dưỡng hạng II (V.11); Điều dưỡng hạng III (V.12); Điều dưỡng hạng IV (V. Khái niệm pháp luật về quản lý viên chức Tập hợp các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các hoạt động, nội dung liên quan đến viên chức mục đích bắt buộc thực hiện một cách nhất quán mục đích nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức trong thực thi nhiệm vụ được giao đó là pháp luật về quản lý viên chức.
Để đảm bảo quyền lực Nhà nước, hiệu quả của đội ngũ viên chức trong hoạt động nghề nghiệp và đảm bảo các nguyên tắc khách quan, toàn diện, kiểm soát hữu hiệu, chống lãng phí, tham nhũng … không thể không đề cập đến phương tiện quan trọng đó là pháp luật về QLVC. Một vấn đề quan trọng không thể thiếu trong quá trình hội nhập với xu thế phát triển đó là việc tăng cường vai trò của pháp luật, xây dựng một xã hội dân chủ, hiện đại hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính của con người. Pháp luật được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp điều chỉnh, răn đe giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế; sẽ ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ của con người trong xã hội; do đó, đạo đức sẽ được đề cao khi có pháp luật đầy đủ, toàn diện, chặt chẽ và thi hành nghiêm minh. Hệ thống pháp luật đầy đủ, toàn diện, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, nguyện vọng của nhân 11 dân nhằm góp phần xây dựng xã hội dân chủ, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền trong tương lai.
Khái niệm thực hiện pháp luật về quản lý viên chức. Thực hiện pháp luật là việc làm cho các quy định của pháp luật trở thành hành vi, hành động thiết thực trong thực tế. Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp năm 2013 đều đã khẳng định trách nhiệm bắt buộc thực hiện pháp luật và chấp hành Hiến pháp, pháp luật của tất cả công dân, cơ quan, tổ chức. Nhà nước sẽ xử lý tất cả cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi đi ngược lại hoặc không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
Hiến pháp năm 2013 cũng đã nêu rõ tất cả tổ chức Đảng và đảng viên đều chấp hành quy định của Hiến pháp và pháp luật trong quá trình hoạt động hoặc thực hiện chức trách được giao. Đảng và Nhà nước đã cụ thể hóa những quan điểm, tư tưởng, đường lối và chính sách về tinh thần pháp quyền thể hiện qua văn bản pháp luật như Hiến pháp và pháp luật. Theo đó, một hành vi hoặc xử sự thực tế của con người phải: phù hợp yêu cầu của pháp luật và chủ thể phải thực hiện hành vi bằng chính khả năng của mình, chịu trách nhiệm pháp lý về quyền và nghĩa vụ … đây là đặc điểm của thực hiện pháp luật. Pháp luật nói chung, pháp luật về viên chức nói riêng là những quy tắc xử sự, đưa ra chuẩn mực và mô hình mẫu về hành vi, là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của các chủ thể trong quan hệ pháp luật.
Việc làm thay đổi thực tế ý thức, hành vi, cách xử sự, hoạt động thực tế của con người, thay đổi hiện thực cuộc sống con người, tùy thuộc vào việc thực hiện pháp luật của các chủ thể thực hiện pháp luật về quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Do đó, việc làm cho các quy định về đội ngũ viên chức trở thành hành vi thực tế và hợp pháp của các cơ quan Nhà nước, tổ chức có liên quan gọi là thực hiện pháp luật về quản lý viên chức. Thực hiện pháp luật có thể có 4 hình thức như sau: 12 - Tuân thủ pháp luật: là việc các chủ thể pháp luật chỉ thực hiện các hành động pháp luật cho phép, kiểm soát trong khuôn khổ không thực hiện các hành động pháp luật cấm. Điều này đòi hỏi tuân thủ tất cả các quy định pháp luật và không thực hiện bất kỳ hoạt động mà pháp luật cấm.
- Thi hành pháp luật: là việc bằng hành động thiết thực để thể hiện các nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể pháp luật. - Sử dụng pháp luật: là các chủ thể pháp luật thực hiện các hành vi mà pháp luật quy định được phép thực hiện. Ví dụ như: quyền của viên chức trong thực hiện hoạt động nghề nghiệp… - Áp dụng pháp luật: căn cứ vào các quy định của pháp luật mà các chủ thể pháp luật tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể; hoặc trường hợp Nhà nước thông qua cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền để thực hiện pháp luật. Đây là một hình thức thực hiện pháp luật rất quan trọng và phức tạp, bởi lẽ áp dụng pháp luật là hoạt động do có các cơ quan hay cá nhân được Nhà nước giao quyền thực hiện, trong khi đó: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật hay sử dụng pháp luật thì do mọi chủ thể pháp luật thực hiện.
Các hình thức nêu trên chỉ mang tính tương đối, bởi chúng không tồn tại cá biệt riêng lẻ, mà trong từng mối quan hệ pháp luật, chúng được tiến hành đồng thời có quan hệ mật thiết, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau. Đặc điểm của việc thực hiện pháp luật về quản lý viên chức. Thực hiện pháp luật về quản lý viên chức là biện pháp cần thiết trong quá trình quản lý có một số đặc trưng cụ thể dưới dây: Thứ nhất, là một phương pháp để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đội ngũ viên chức. Để thực hiện, làm cho những quy tắc xử sự chung, bắt buộc của pháp luật thành hành động trong đời sống xã hội, Nhà nước sẽ triển khai công tác tổ chức thực hiện pháp luật nhằm mục đích nâng cao chất lượng đội 13 ngũ viên chức.
Thứ hai, là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Nhà nước ban hành các quy tắc xử sự chung về quản lý viên chức để điều chỉnh hành vi của viên chức nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý.