CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Khái niệm và ý nghĩa của quản lí nhà nước về an toàn thực phẩm 1. Khái niệm thực phẩm và an toàn thực phẩm Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mỗi người, là yếu tố rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Thực phẩm rất đa dạng về chủng loại cũng như chất lượng.
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về thực phẩm, từ đó nhiều khái niệm được đưa ra. Thực phẩm 6 Thực phẩm có thể hiểu là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 đưa ra khái niệm như sau: “Thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến bảo quản” (khoản 1, điều 3) [3]. Luật an toàn thực phẩm năm 2010 quy định: “Thực phẩm là sản phẩm con người ăn, uống dưới dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản.
Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” (khoản 20, điều 2) [26] Tổng hợp các khái niệm nên trên ta có thể đưa ra một khái niệm chung nhất cho thực phẩm như sau: Thực phẩm là tất cả các sản phẩm ở trạng thái tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản nhằm phục vụ cho nhu cầu ăn, uống của con người. Theo tiêu chuẩn thực phẩm Quốc tế (Codex): Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con người bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ định được dùng như dược phẩm. Theo Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010 của Quốc hội, thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm.
Theo định nghĩa của Tổ chức Nông - Lương thế giới (FAO) và Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị 7 bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”. Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010, an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Vậy, an toàn vệ sinh thực phẩm là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Như vậy, an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y, cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng.
Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng những phương tiện khác nhau nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
Nhà nước là thiết chế quyền lực công, đại diện cho toàn thể nhân dân quản lý mọi mặt của đời sống xã hội. Nhà nước có những quyền lực đặc biệt, nắm trong tay những công cụ quản lý đặc biệt, đảm bảo thực hiện quyền lợi của giai cấp thống trị và quyền lợi của toàn xã hội. Quản lý nhà nước (QLNN) là một lĩnh vực quản lý đặc biệt. Đó là loại quản lý gắn liền trực tiếp với hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy quyền lực nhà nước; gắn liền với việc sử dụng quyền lực nhà nước - một loại quyền lực đặc biệt, khác hẳn với các loại quyền lực khác.
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà 8 nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội. Quản lý an toàn thực phẩm: được định nghĩa là hoạt động điều khiển có tính bắt buộc của các cơ quan chức năng quốc gia (cấp Trung ương) hoặc địa phương nhằm tạo nên sự bảo vệ người tiêu dùng và đảm bảo rằng tất cả các loại thực phẩm trong khi sản xuất, vận chuyển, lưu kho, chế biến và phân phối đều an toàn, lành mạnh (không độc hại) và thích hợp cho tiêu thụ ở người; phù hợp với các yêu cầu về an toàn và chất lượng; được dán nhãn một cách trung thực và chuẩn xác như đã được quy định bởi luật pháp. Trách nhiệm trên hết của hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật cũng như hướng dẫn các quy định về quản lý thực phẩm an toàn và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.
Hay quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp luật, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm của đơn vị sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, các chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và công tác tổ chức thực thi các văn bản gồm một số công việc cụ thể: tổ chức giáo dục tuyên truyền, công tác thanh tra, xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong 9 bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”[19].
Khái niệm này cho ta thấy được nhà nước thực hiện quyền quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ có các cơ quan nhà nước mới được thực hiện chức năng quản lý này, nét đặc trưng quan trọng nhất của quản lý nhà nước chính là quyền lực nhà nước, chính nhờ quyền lực nhà nước mà nhà nước mới có thể quản lý được các đối tượng trong xã hội. Cũng chính nhờ đặc trưng đó mà nhà nước mới có thể duy trì được sự ổn định và phát triển của toàn xã hội, vì quyền lực nhà nước mang tính cưỡng chế và bắt buộc mọi chủ thể trong xã hội và tuân theo. Từ khái niệm về quản lý nhà nước chúng ta có thể đưa ra được khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm như sau: Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước tác động lên các đối tượng có liên quan đến việc đảm bảo an toàn thực phẩm, nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. An toàn thực phẩm là một lĩnh vực của quản lý nhà nước do đó nó mang những đặc trưng chung của quản lý nhà nước.
Thứ nhất, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động quản lý mang tính quyền lực nhà nước. Đây là đặc trưng cơ bản của hoạt động QLNN so với hoạt động quản lý của các chủ thể khác. Quyền lực nhà nước cho phép chủ thể nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tác động đến các chủ thể trong xã hội có liên quan đến việc đảm bảo an toàn thực phẩm và bắt buộc các chủ thể này phải tuân theo. Sử dụng quyền lực nhà nước cho phép cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chất lượng an toàn thực phẩm, có quyền thanh tra, kiểm tra và áp dụng các hình thức xử lý theo pháp luật đối với những hành vi vi phạm quy định về ATTP.
Khi ý thức về an toàn thực phẩm của các chủ thể trong xã hội chưa cao thì việc sử dụng quyền lực nhà nước là một biện pháp hữu hiệu để đảm bảo ATTP. 10 Thứ hai, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động có tính thống nhất. Bộ máy nhà nước được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương đến địa phương, Chính Phủ chịu trách nhiệm cao nhất về công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên phạm vi cả nước, trong đó có sự phân công cho các bộ ngành và cho các địa phương, điều này vừa đảm bảo tính thống nhất trong quản lý vừa đảm bảo phù hợp với đặc thù của từng địa phương. Tính thống nhất còn thể hiện ở việc khi các cơ quan địa phương ban hành các văn bản quy định về ATTP tại địa phương thì phải phù hợp với quy định của cơ quan cấp trên, đồng thời phải chịu trách nhiệm về công tác đảm bảo an toàn thực phẩm của địa phương đối với cơ quan nhà nước cấp trên.
Thứ ba, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động mang tính liên tục. Hoạt động quản lý nhà nước cần phải đảm bảo tính liên tục, kịp thời để có thể đáp ứng được sự vận động không ngừng của đời sống xã hội.