chương I: Những quy định chung) của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa bao gồm: Nguyên tắc thức nhất: Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Căn cứ vào khả năng gây mất an toàn, sản phẩm, hàng hóa được quản lý như sau: Sản phẩm, hàng hóa nhóm một được quản lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng. Sản phẩm, hàng hóa nhóm hai được quản lý chất lượng trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng. Chính phủ quy định cụ thể việc ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm hai, có nguy cơ gây mất an toàn cao hơn.
Nguyên tắc thứ hai: Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam. Nguyên tắc thứ ba: Quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Hoạt động quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa phải bảo đảm minh bạch, khách quan, không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa, phù hợp với thông lệ quốc tế, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng. Tổ chức bộ máy về chất lượng và VSATTP * Đối với quản lý Chất lượng Cơ cấu tổ chức trong quản lý chất lượng của Nhà nước được thể hiện thông qua sơ đầu dưới đây.1: Cơ cấu tổ chức trong quản lý chất lượng của Nhà nước CHÍNH PHỦ CÁC BỘ, TỔNG CỤC (QUẢN LÝ LĨNH VỰC NGÀNH) UBND TỈNH BỘ KH - CN THÀNH PHỐ CÁC ĐƠN VỊ VỤ QUẢN LÝ CÁC CƠ SỞ TRỰC THUỘC KH&CN, CHẤT TRỰC THUỘC, LƯỢNG SẢN PHẨM TỔNG CỤC PHÒNG QUẢN LÝ KH, KT&CL SỞ QUẢN LÝ LĨNH CÁC CƠ SỞ TRỰC THUỘC SỞ KH - CN VỰC, NGÀNH TỈNH, THÀNH PHỐ CÁC ĐƠN VỊ TRỰC THUỘC PHÒNG QUẢN LÝ PHÒNG QUẢN LÝ KH, KH, KT&CL KT&CL GHI CHÚ Quản lý chỉ đạo toàn diện Hướng dẫn chuyên môn Phối hợp công tác giữa ngành, địa phương (Nguồn: Giáo trình Quản trị chất lượng – Trường ĐH Thương Mại) Theo sơ đồ này, trách nhiệm quản lý Nhà nước của mỗi cấp, mỗi đơn vụ quản lý Nhà nước về chất lượng được cụ thể như sau: Luan van 13 Chính phủ: Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất về chất lượng, có trách nhiệm thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi cả nước.
Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi địa phương theo phân cấp của Chính phủ. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong từng thời kỳ, Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm quản lý Nhà nước của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực đối với sản phẩm, hàng hóa chưa được quy định tại khoản 2 điều 70 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
Các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng theo sự phân công của Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Khoa học – Công nghệ thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về chất lượng. Ở cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng ở địa phương là Sở Khoa học – Công nghệ.Ở cấp quận, huyện hoặc là một bộ phần nằm trong phòng Kế hoạch hoặc văn phòng Ủy ban. Quản lý chất lượng ở cơ sở bao gồm các phòng quản lý khoa học – kỹ thuật và chất lượng ở các viện nghiên cứu và các trường đại học hoặc các phòng công nghệ kỹ thuật ở cơ sở sản xuất.
Việc phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được thể hiện tại Luật Chất lượng sản phẩm. Luan van 14 * Đối với VSATTP Liên quan đến lĩnh vực quản lý VSATTP gồm các ngành Y tế, Công thương, Nông nghiệp, và một số ngành khác tham gia và phối hợp cùng.Trên Trung ương sẽ có các bộ, mỗi bộ được giao phân công quản lý VSATTP một số mặt hàng, ngành hàng thuộc chức năng nhiệm vụ của bộ đó. Ta có sơ đồ sau để minh họa cơ cấu tổ chức hệ thống QLNN về VSATTP tại Việt Nam. Cơ cấu tổ chức hệ thống QLNN về VSATTP tại Việt Nam Bộ TN-MT Bộ NN- Bộ Công thương Bộ Bộ Y tế Bộ Tài PTNT KH&CN chính Tổng cục Cục QLCL Vụ KH - Cục Tổng cục Cục Tổng cục Môi trường Nông lâm sản CN QLTT TC-ĐL- ATVST Hải quan CL P Sở TN-MT Sở NN- Sở Công Sở KH - Sở Y tế Cục Hải PTNT thương CN quan Chi cục Chi cục Chi cục QLTT Chi cục Chi cục Chi cục BVMT QLCLNLS - TC-ĐL-CL ATVSTP Hải quan TS Phối hợp kiểm soát Phòng Kinh tế Đội QLTT TT TP nhập khẩu ATVSTP Sản xuất thực phẩm Chế biến TP công nghiệp/ thủ Lưu thông thực phẩm Tiêu dùng TP công Các hộ gia đình Ủy ban nhân dân các cấp (Nguồn: Theo Nghị định 79/2008/NĐ-CP) Luan van 15 Ngoài ra, theo Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 09/5/2016 về việc “tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm”, nêu rõ: Bộ trưởng các Bộ: Y tế, NN-PTNT, Công Thương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra, kiểm tra đột xuất về an toàn thực phẩm đối với ngành hàng được phân công, quản lý chặt chẽ các vật tư liên quan đến an toàn thực phẩm, giải quyết kịp thời các sự cố mất an toàn thực phẩm; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm và các cơ quan, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý an toàn thực phẩm.
Bộ Công an chỉ đạo các lực lượng nghiệp vụ, công an các địa phương nắm chắc tình hình các tuyến, địa bàn trọng điểm về vi phạm an toàn thực phẩm, điều tra, xử lý hình sự các vi phạm nghiêm trọng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật. Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn; xác định việc bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm là nhiệm vụ cấp thiết cần tập trung chỉ đạo, điều hành; ưu tiên bố trí đủ kinh phí, nguồn lực cho công tác quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm, trước mắt chủ động bố trí kinh phí tương ứng với số thu tiền xử phạt vi phạm hành chính về an toàn thực phẩm thuộc ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và công tác kiểm tra, kiểm nghiệm, xử lý tiêu hủy thực phẩm không an toàn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân trực tiếp làm nhiệm vụ Trưởng ban chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm của địa phương; chủ động tổ chức lực lượng, tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ đạo và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về an toàn thực phẩm của cơ quan nhà nước cấp dưới; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý.
Lãnh đạo các cấp từ xã đến tỉnh phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn. Nội dung và phương pháp QLNN về chất lượng và VSATTP * Nội dung quản lý Nhà nước về chất lượng và VSATTP Hoạch định chính sách, xây dựng chương trình quốc gia về chất lượng Đối tượng chủ yếu của chính sách này hướng tới đó là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh chất lượng sản phẩm, hàng hóa cũng như nâng cao ý thức cho người tiêu dùng. Nội dung chính sách quốc gia về chất lượng phải đảm bảo các yêu cầu sau: Tính thống nhất: Tăng cường quyền quản lý tập trung thống nhất của trung ương, kết hợp chặt chẽ việc phân công, phân cấp hợp lý và quy định việc phối hợp nhịp nhàng để tăng cường quản lý Nhà nước đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Tính minh bạch: Điều này thể hiện được bản chất của một Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân”.
Tính minh bạch trong hoạt động quản lý chính là nguồn sức mạnh cảu bộ máy quản lý Nhà nước. Tính rõ ràng: Các văn bản quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa được quy định cụ thể, dễ hiểu. Các điều kiện quy định xuất phát từ thực tế sẽ giảm thiểu, lãng phí và thiệt hại trong quá trình tạo thành và duy trì chất lượng đối với tất cả các sản phẩm, hàng hóa. Tính phổ thông, đại chúng: Các quy định nằm trong các văn bản quản lý khác nhau nhưng được liên hệ chặt chẽ với nhau, tránh tình trạng tạo ra các kẽ hở có thể tạo điều kiện cho các hình thức kinh doanh gian lận.
Tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện là bước tiếp theo trong nội dung quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Các văn bản quản lý được xây dựng và ban hành sẽ được đưa vào thực tế. bản chất của việc tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa các cấp là tuyên truyền phổ biến các văn bản luật này đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng để hướng dẫn họ thực hiện đúng quy định.