CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thực phẩm Thực phẩm hay còn được gọi là thức ăn là bất kỳ vật phẩm nào, bao gồm chủ yếu các chất: đường bột (cacbohydrat), chất béo (lipid), chất đạm (protein), hoặc nước, mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được, với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích ăn uống [1]. Theo Điều 2, Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 được Quốc hội (khóa XII) thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản”, thực phẩm bao gồm các loại: - Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến.
- Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng. - Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người, tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khoẻ, thực phẩm dinh dưỡng y học. 9 Luật cũng định nghĩa một số loại thực phẩm đặc biệt và cụ thể trong một số trường hợp như sau: - Thực phẩm biến đổi gen là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen. - Thực phẩm đã qua chiếu xạ là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng xạ để xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm.
- Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự. - Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn ngay. Bên cạnh việc xác định rõ thế nào là thực phẩm thì khái niệm liên quan đến ATTP cũng được đưa ra. An toàn thực phẩm ATTP hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp mang tính phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra.
ATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm năng nghiêm trọng. Hiểu theo nghĩa rộng, ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng. [2] Ở Việt Nam, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 hiện nay quy định: “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. Chính sách của Nhà nước về ATTP Chính sách của Nhà nước về ATTP là chính sách công bao gồm tập hợp các quyết định quản lý của Nhà nước về bảo đảm ATTP nhằm đưa ra các mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện chính sách để giải quyết các vấn đề về ATTP, đảm bảo chất lượng của thực phẩm theo đúng quy chuẩn quy định với mục đích cuối cùng là thực phẩm không gây hại đến sự an toàn cho người tiêu dùng.
Chính sách của Nhà nước về ATTP được cụ thể hóa tại Luật An toàn thực phẩm năm 2010, trong đó, Điều 4 của Luật xác định rõ chính sách của Nhà nước về ATTP bao gồm các nội dung sau: - Xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể về bảo đảm ATTP, quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn theo chuỗi cung cấp thực phẩm được xác định là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên. - Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác đầu tư nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với ATTP; xây dựng mới, nâng cấp một số phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn khu vực, quốc tế; nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; hỗ trợ đầu tư xây dựng các vùng sản xuất nguyên liệu thực phẩm an toàn, chợ đầu mối nông sản thực phẩm, cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp. - Khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất; sản xuất thực phẩm chất lượng cao, bảo đảm an toàn; bổ sung vi chất dinh dưỡng thiết yếu trong thực phẩm; xây dựng thương hiệu và phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn. - Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP), Phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm 11 tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý ATTP tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh ký kết điều ước, thoả thuận quốc tế về công nhận, thừa nhận lẫn nhau trong lĩnh vực thực phẩm. - Khen thưởng kịp thời tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn. - Khuyến khích, tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm ATTP. - Tăng đầu tư, đa dạng các hình thức, phương thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách nhiệm và đạo đức kinh doanh của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng.
Quy trình thực hiện chính sách đảm bảo ATTP Thực hiện chính sách ATTP là một trong những giai đoạn quan trọng trong chu trình chính sách ATTP. Đây là giai đoạn vận dụng những giải pháp định trước để đạt được các mục tiêu chính sách ATTP đã đề ra; chính trong giai đoạn này, chính sách được biến thành kết quả trên thực tế. Giai đoạn thực hiện chính sách ATTP tập hợp các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện, kiểm tra đôn đốc và theo dõi, đánh giá hiệu quả của các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách ATTP nhằm phát huy tác dụng của mục tiêu chính sách ATTP trong đời sống. Thực hiện chính sách đảm bảo ATTP bao gồm các bước sau: [19] 1.
Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách ATTP Để chính sách đảm bảo ATTP được thực hiện hiệu quả thì việc xây 12 dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách là bước đầu tiên trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Đây là một quá trình phức tạp, cần một thời gian dài để thực hiện, vì thế việc lập kế hoạch cụ thể, chi tiết trước khi áp dụng chính sách vào thực tiễn sẽ giúp các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động theo lộ trình, mục tiêu cụ thể. Các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện với các nội dung sau: Một là, lập kế hoạch tổ chức điều hành: Căn cứ vào các văn bản quy định của Nhà nước về việc phân công, phân cấp thẩm quyền quản lý về ATTP thì các Bộ, ngành có liên quan như: Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp phát triển và Nông thôn… xây dựng kế hoạch quản lý, thực hiện các công tác liên quan đến ATTP thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và chỉ đạo thực hiện xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương. Theo đó, căn cứ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước và tình hình thực tế thì từng địa phương sẽ xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện công tác đảm bảo ATTP trên địa bàn.
Hai là, lập kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực: các đơn vị căn cứ kế hoạch tổ chức điều hành và các nội dung công việc cần thực hiện để xây dựng kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực dự kiến đảm bảo việc thực hiện kế hoạch gồm các nội dung về: cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật, nguồn lực tài chính, và quan trọng nhất là nguồn nhân lực… Việc dự kiến đúng và đầy đủ các nguồn lực tham gia quá trình thực hiện chính sách sẽ giúp chính sách đạt được hiệu quả và kết quả cao hơn. Ba là, đề xuất thời gian triển khai thực hiện: Khi xây dựng chính sách thì cần xác định thời gian thực hiện chính sách cụ thể để đạt được mục tiêu chính sách đảm bảo ATTP đề ra trong kế hoạch tổ chức điều hành. Và khi dự 13 kiến thời gian thực hiện chính sách thì việc thực hiện chính sách được chia thành nhiều giai đoạn thực hiện, mỗi giai đoạn sẽ dựa trên tình hình thực tế tại từng thời điểm để xây dựng kế hoạch cho phù hợp với một chương trình cụ thể của chính sách đảm bảo ATTP, thời gian dự kiến hoàn thành của từng giai đoạn để đạt được mục tiêu nhất định đều được xác định rõ ràng, cụ thể từ việc thực hiện tuyên truyền chính sách đến tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm chính sách ATTP. Bốn là, lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chính sách: sau khi dự kiến thời gian triển khai thực hiện thì cần xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chính sách ATTP, đảm bảo chính sách được thực hiện đúng tiến độ theo kế hoạch đề ra.
Việc xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chính sách ngoài mục đích đặt ra là kiểm tra về tiến độ thì còn xác định hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát các tổ chức, cá nhân được giao nhiệm vụ thực hiện chính sách nhằm kịp thời phát hiện những tồn tại hạn chế, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách, từ đó điều chỉnh phương pháp thực hiện chính sách đảm bảo hoàn thành mục tiêu chính sách đề ra; đồng thời phục vụ việc theo dõi, đánh giá, tổng kết việc triển khai thực hiện chính sách.